Bóng đá giống như cuộc đời, đẳng cấp, bản lĩnh và ý chí của người Đức đôi khi cũng không cưỡng nổi số mệnh.
Với những khoảnh khắc nóng vội và cả một thoáng mất tập trung, Đức đã thua chính bản sao của họ ở châu Á, đấy là Hàn Quốc. Một kỳ World cup kỳ lạ nhất từ trước đến nay khi mọi kết quả đều có thể gây sốc.
Một Argentina vật vờ đã vào vòng trong nhờ sự trợ giúp của trọng tài để lại bao tiếc nuối cho Nigeria. Điều này khiến không ít người tin rằng sự thành công không hẳn đến với bạn nếu không có sự may mắn và bàn tay trợ giúp của kẻ khác. Đừng hy vọng nhiều vào sự công bằng trong thế giới của những mưu mô.
Với nhiều người, World cup 2018 đã kết thúc khi còn chưa đá xong vòng bảng. Tuy nhiên, World cup bốn năm nữa lại quay lại và cơ hội để người Đức làm lại không phải là quá xa.
Trong cuộc đời, có những thời khắc sa chân khiến cả một dân tộc phải trả giá đến hàng thế kỷ.
Thứ Tư, 27 tháng 6, 2018
NIỀM TỰ HÀO
Người Việt và người Nhật có những điểm tương đồng về dân tộc và văn hóa. Đấy là nói đến lịch sử, còn hiện tại là cả một sự khác biệt. Người Việt hiện nay không chịu cúi đầu như người Nhật và trong khi người Nhật có khát vọng thì người Việt lại có niềm tự hào.
Người Việt có niềm tự hào vô bờ bến, chính vì vậy có những thứ chả có gì đáng tự hào nhưng người Việt vẫn thấy tự hào.
Sự kiện World cup ở Nga chỉ là một trong những ví dụ minh họa cho niềm tự hào của người Việt, mặc dù sân chơi châu lục cũng đã là quá tầm nhưng người Việt vẫn có niềm tự hào vỡ òa khi khẳng định với thế giới rằng dù sao vẫn có những người Việt đủ tiền để sang Nga xem bóng đá.
Với lịch sử bốn ngàn năm, dân số đông thứ 14 thế giới nhưng tất cả các yếu tố phát triển lại ở nửa sau của nhân loại. Tuy nhiên cũng không vấn đề gì, người Việt vẫn thấy tự hào. Đây cũng là một trong những yếu tố khẳng định Việt Nam là quốc gia độc lập so với phần còn lại của thế giới!
Niềm tự hào của người Việt đã được hình thành qua gần ba phần tư thế kỷ và càng ngày càng phát triển.
Thật vĩ đại, thật vinh quang... Ôi niềm tự hào!
Người Việt có niềm tự hào vô bờ bến, chính vì vậy có những thứ chả có gì đáng tự hào nhưng người Việt vẫn thấy tự hào.
Sự kiện World cup ở Nga chỉ là một trong những ví dụ minh họa cho niềm tự hào của người Việt, mặc dù sân chơi châu lục cũng đã là quá tầm nhưng người Việt vẫn có niềm tự hào vỡ òa khi khẳng định với thế giới rằng dù sao vẫn có những người Việt đủ tiền để sang Nga xem bóng đá.
Với lịch sử bốn ngàn năm, dân số đông thứ 14 thế giới nhưng tất cả các yếu tố phát triển lại ở nửa sau của nhân loại. Tuy nhiên cũng không vấn đề gì, người Việt vẫn thấy tự hào. Đây cũng là một trong những yếu tố khẳng định Việt Nam là quốc gia độc lập so với phần còn lại của thế giới!
Niềm tự hào của người Việt đã được hình thành qua gần ba phần tư thế kỷ và càng ngày càng phát triển.
Thật vĩ đại, thật vinh quang... Ôi niềm tự hào!
Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018
BÁCH VIỆT VÀ SỰ XÂM LĂNG CỦA NGƯỜI HÁN
Vùng đất của người Bách Việt kéo dài từ phía Nam sông Trường Giang, bao gồm: Ư Việt, Mân Việt, Nam Việt, Âu Việt và Lạc Việt. Nhiều vùng đất của người Việt này đã bị Tần Thủy Hoàng xâm lăng và thống nhất vào Trung Hoa bắt đầu từ giai đoạn năm 200 trước công nguyên.
Việt Nam vốn dĩ được coi là hợp thành từ hai tộc Việt, đó là Âu Việt và Lạc Việt. Trên thực tế, người Việt ở Việt Nam không chỉ xuất phát từ hai vùng đất này mà còn từ các vùng khác của người Việt. Đó là điều lý giải sự phát tích của nhiều dòng họ ở Việt Nam, trong đó nhà Trần có nguồn gốc từ Mân Việt (Phúc Kiến hiện nay).
Người Hán (Hoa - Hạ) có phát tích từ Trung Nguyên là vùng đồng bằng giữa sông Trường Giang và Hoàng Hà. Bản chất của người Hán là bành trướng và xâm lăng các vùng đất và quốc gia láng giềng. Tuy nhiên, các vùng đất của người Hán cũng bị một số dân tộc láng giềng xâm lăng, trong đó phải kể đến hai lần người Hán là những kẻ phải chịu nỗi nhục mất nước: thời nhà Nguyên và nhà Thanh. Điều đáng tiếc nhất của các quốc gia xâm lăng Trung Quốc là cuối cùng chính họ lại bị đồng hóa và cũng chính vì lẽ đó người Hán sau quá trình dài của lịch sử lại chỉ là một dân tộc ô hợp và hung hãn.
Sự hung hãn của người Hán cứ lớn dần theo thời gian, cái máu pha trộn của các dân tộc luôn tìm các lấn chiếm các nước láng giềng cứ ngày càng tích tụ. Các vùng đất lân bang bị họ xâm lăng và đồng hóa cứ ngày một kéo dài như: Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông...
Người Việt với lịch sử đau thương và bi tráng đã cứ ngày càng bị người Hán đẩy lùi xuống phía Nam. Số người Việt còn lại ở trên mảnh đất bị xâm lẫn dần dần bị đồng hóa với người Hán. Và vẫn có sự ngộ nhận về nguồn gốc của người Việt kể cả trong giới sử gia phong kiến và đương đại.
Lịch sử lẽ ra đã sang trang và sự đe dọa của người Hán lẽ ra đã khác nếu vua Quang Trung không mất quá sớm trước khi đòi lại được hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây về cho người Việt. Cũng cần lưu ý nhà Thanh vốn dĩ không phải là người Hán mà là người Mãn và cũng không phải vô cớ mà nhà Thanh đồng ý trao trả Quảng Đông và Quảng Tây cho vua Quang Trung sau khi đã kéo quân xâm lược nước Việt. Rất tiếc, lịch sử đã không đứng về người Việt và càng tiếc hơn là các sử gia người Việt chưa bao giờ phân tích rõ lý do nhà Thanh buộc phải đồng ý trao trả hai vùng đất này cho người Việt.
Điều mà các triều đại phong kiến nhà Hán chưa làm được, đó chính là thôn tính biển Đông. Tuy nhiên, hậu duệ của họ lại đang quyết tâm thực hiện điều đó. Sự tồn vong của người Việt và các nước Đông Nam Á lại một lần nữa bị đe dọa.
Niềm tự hào của người Việt với mấy ngàn năm lịch sử đã đi qua chưa bao giờ bị đồng hóa về cả văn hóa và sắc tộc. Người Việt chắc chắn sẽ không ngồi yên nhìn mảnh đất của ông cha bị xâm lấn.
Việt Nam vốn dĩ được coi là hợp thành từ hai tộc Việt, đó là Âu Việt và Lạc Việt. Trên thực tế, người Việt ở Việt Nam không chỉ xuất phát từ hai vùng đất này mà còn từ các vùng khác của người Việt. Đó là điều lý giải sự phát tích của nhiều dòng họ ở Việt Nam, trong đó nhà Trần có nguồn gốc từ Mân Việt (Phúc Kiến hiện nay).
Người Hán (Hoa - Hạ) có phát tích từ Trung Nguyên là vùng đồng bằng giữa sông Trường Giang và Hoàng Hà. Bản chất của người Hán là bành trướng và xâm lăng các vùng đất và quốc gia láng giềng. Tuy nhiên, các vùng đất của người Hán cũng bị một số dân tộc láng giềng xâm lăng, trong đó phải kể đến hai lần người Hán là những kẻ phải chịu nỗi nhục mất nước: thời nhà Nguyên và nhà Thanh. Điều đáng tiếc nhất của các quốc gia xâm lăng Trung Quốc là cuối cùng chính họ lại bị đồng hóa và cũng chính vì lẽ đó người Hán sau quá trình dài của lịch sử lại chỉ là một dân tộc ô hợp và hung hãn.
Sự hung hãn của người Hán cứ lớn dần theo thời gian, cái máu pha trộn của các dân tộc luôn tìm các lấn chiếm các nước láng giềng cứ ngày càng tích tụ. Các vùng đất lân bang bị họ xâm lăng và đồng hóa cứ ngày một kéo dài như: Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông...
Người Việt với lịch sử đau thương và bi tráng đã cứ ngày càng bị người Hán đẩy lùi xuống phía Nam. Số người Việt còn lại ở trên mảnh đất bị xâm lẫn dần dần bị đồng hóa với người Hán. Và vẫn có sự ngộ nhận về nguồn gốc của người Việt kể cả trong giới sử gia phong kiến và đương đại.
Lịch sử lẽ ra đã sang trang và sự đe dọa của người Hán lẽ ra đã khác nếu vua Quang Trung không mất quá sớm trước khi đòi lại được hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây về cho người Việt. Cũng cần lưu ý nhà Thanh vốn dĩ không phải là người Hán mà là người Mãn và cũng không phải vô cớ mà nhà Thanh đồng ý trao trả Quảng Đông và Quảng Tây cho vua Quang Trung sau khi đã kéo quân xâm lược nước Việt. Rất tiếc, lịch sử đã không đứng về người Việt và càng tiếc hơn là các sử gia người Việt chưa bao giờ phân tích rõ lý do nhà Thanh buộc phải đồng ý trao trả hai vùng đất này cho người Việt.
Điều mà các triều đại phong kiến nhà Hán chưa làm được, đó chính là thôn tính biển Đông. Tuy nhiên, hậu duệ của họ lại đang quyết tâm thực hiện điều đó. Sự tồn vong của người Việt và các nước Đông Nam Á lại một lần nữa bị đe dọa.
Niềm tự hào của người Việt với mấy ngàn năm lịch sử đã đi qua chưa bao giờ bị đồng hóa về cả văn hóa và sắc tộc. Người Việt chắc chắn sẽ không ngồi yên nhìn mảnh đất của ông cha bị xâm lấn.
Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017
DÂN VÀ QUAN
1. Dân
Nói về dân xin kể câu chuyện mà tôi là người trong cuộc. Khi đó tôi làm cán bộ của Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình:
Câu chuyện xảy ra khi giải phóng mặt bằng ngay giữa khu dân cư đông đúc, đó là thị trấn Hưng Hà.
Dự án cống Đồng Nhân khi đó vì sự bùng nhùng trong giải phóng mặt bằng với người dân mà mãi không triển khai được. Tôi là người được cử xuống để thay một cán bộ giám sát khác, sau khi tìm hiểu mọi việc tôi nói với Chủ tịch Thị trấn: nếu anh quyết tâm việc giải phóng tôi khẳng định là giải quyết được.
Khu vực giải phóng mặt bằng nằm ở giữa khu chợ tự phát cạnh đường quốc lộ, toàn dân có số má, anh chị của Thị trấn. Khi tôi xuống làm việc về giải phóng mặt bằng, hóa ra không phải người dân không muốn thực hiện Dự án mà chẳng qua họ muốn bồi thường theo yêu cầu của họ. Tuy nhiên, yêu cầu đó lại không thể đáp ứng do đất họ tự ý lấn chiếm. Tôi nhớ, có một người đàn ông bặm trợn cầm dao dọa tôi: cán bộ giám sát cũ đã công nhận diện tích giải tỏa nhà anh là 16m2 rồi, chú mà không đồng ý công nhận diện tích đó thì đừng có bước chân ra khỏi đây. Tôi cười nói: sổ đỏ của nhà anh có 12m2 thì tôi có muốn cũng chả dám công nhận diện tích theo ý của anh, anh có chém tôi cũng đành chịu. Mà tôi nói luôn với anh nếu anh chém tôi thì vớ vẩn anh không giữ được cái mạng sống chứ đừng nghĩ đến lợi lộc gì!
Hóa ra có vấn đề giữa cán bộ giải phóng mặt bằng với tính pháp lý về đất đai của người dân nên sự việc nhùng nhằng không đi đến hồi kết. Tuy nhiên, nhờ quyết tâm của vị Chủ tịch Thị trấn và sự lỳ lợm của tôi, việc giải phóng mặt bằng cũng hoàn thành.
Sự việc chưa dừng lại ở đó, một lần có việc đi qua Thị trấn, bất chợt một người đàn ông bặm trợn nhảy ra chặn đầu xe, vẫn người đàn ông dọa chém tôi năm xưa! Anh ta nói: mời chú vào uống nước, tôi cười bảo: tôi lại tưởng anh nhảy ra chặn xe để chém tôi cơ đấy!
Ngồi trong quán nước, anh ta gãi đầu: chú thông cảm, dân thì gian mà quan thì tham. Tuy nhiên, nghe chú phân tích anh cũng thấy cái sai của anh. Ai chả có tý gian, không gian được thì thôi... À mà, từ ngày làm xong công trình, mọi thứ khang trang hẳn chú ạ!
Ờ nhỉ! Dân thì gian, quan thì tham. Nhưng mà dân có gian thì vẫn biết đến điểm dừng...
2. Quan
Nói về quan chắc cũng phải nói qua về tôi: làm trong cơ quan hành chính, cũng có hệ số trách nhiệm mặc dù bé tý, vả lại có đôi chỗ, đôi lúc được người nọ, người kia gọi lại quan anh, quan bác... Vì vậy,có lẽ tôi cũng được gọi là quan dù chỉ là chức quan Bật Mã Ôn!
Nói về quan, có lẽ phải nói lại một tý về dân. Dân thì gian, cái gian của dân dẫu sao cũng chỉ bé bằng cái móng tay, cái gian của dân chẳng qua cũng chỉ là cái tư lợi nhỏ nhoi. Mà dân dẫu có gian đến mấy thì vẫn phải có điểm dừng.
Nói về quan là nói đến công quyền! Việc quan là việc ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều đối tượng, thậm chí làm quan to còn ảnh hưởng đến cả quốc gia!
Cái tham của quan dính đến công quyền, mà công quyền thì không chỉ có riêng cái tư lợi như dân. Dân thì thấp cổ bé họng...
Làm quan thì ăn to, nói lớn chứ không thấp cổ bé họng như dân!
Nói về dân xin kể câu chuyện mà tôi là người trong cuộc. Khi đó tôi làm cán bộ của Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình:
Câu chuyện xảy ra khi giải phóng mặt bằng ngay giữa khu dân cư đông đúc, đó là thị trấn Hưng Hà.
Dự án cống Đồng Nhân khi đó vì sự bùng nhùng trong giải phóng mặt bằng với người dân mà mãi không triển khai được. Tôi là người được cử xuống để thay một cán bộ giám sát khác, sau khi tìm hiểu mọi việc tôi nói với Chủ tịch Thị trấn: nếu anh quyết tâm việc giải phóng tôi khẳng định là giải quyết được.
Khu vực giải phóng mặt bằng nằm ở giữa khu chợ tự phát cạnh đường quốc lộ, toàn dân có số má, anh chị của Thị trấn. Khi tôi xuống làm việc về giải phóng mặt bằng, hóa ra không phải người dân không muốn thực hiện Dự án mà chẳng qua họ muốn bồi thường theo yêu cầu của họ. Tuy nhiên, yêu cầu đó lại không thể đáp ứng do đất họ tự ý lấn chiếm. Tôi nhớ, có một người đàn ông bặm trợn cầm dao dọa tôi: cán bộ giám sát cũ đã công nhận diện tích giải tỏa nhà anh là 16m2 rồi, chú mà không đồng ý công nhận diện tích đó thì đừng có bước chân ra khỏi đây. Tôi cười nói: sổ đỏ của nhà anh có 12m2 thì tôi có muốn cũng chả dám công nhận diện tích theo ý của anh, anh có chém tôi cũng đành chịu. Mà tôi nói luôn với anh nếu anh chém tôi thì vớ vẩn anh không giữ được cái mạng sống chứ đừng nghĩ đến lợi lộc gì!
Hóa ra có vấn đề giữa cán bộ giải phóng mặt bằng với tính pháp lý về đất đai của người dân nên sự việc nhùng nhằng không đi đến hồi kết. Tuy nhiên, nhờ quyết tâm của vị Chủ tịch Thị trấn và sự lỳ lợm của tôi, việc giải phóng mặt bằng cũng hoàn thành.
Sự việc chưa dừng lại ở đó, một lần có việc đi qua Thị trấn, bất chợt một người đàn ông bặm trợn nhảy ra chặn đầu xe, vẫn người đàn ông dọa chém tôi năm xưa! Anh ta nói: mời chú vào uống nước, tôi cười bảo: tôi lại tưởng anh nhảy ra chặn xe để chém tôi cơ đấy!
Ngồi trong quán nước, anh ta gãi đầu: chú thông cảm, dân thì gian mà quan thì tham. Tuy nhiên, nghe chú phân tích anh cũng thấy cái sai của anh. Ai chả có tý gian, không gian được thì thôi... À mà, từ ngày làm xong công trình, mọi thứ khang trang hẳn chú ạ!
Ờ nhỉ! Dân thì gian, quan thì tham. Nhưng mà dân có gian thì vẫn biết đến điểm dừng...
2. Quan
Nói về quan chắc cũng phải nói qua về tôi: làm trong cơ quan hành chính, cũng có hệ số trách nhiệm mặc dù bé tý, vả lại có đôi chỗ, đôi lúc được người nọ, người kia gọi lại quan anh, quan bác... Vì vậy,có lẽ tôi cũng được gọi là quan dù chỉ là chức quan Bật Mã Ôn!
Nói về quan, có lẽ phải nói lại một tý về dân. Dân thì gian, cái gian của dân dẫu sao cũng chỉ bé bằng cái móng tay, cái gian của dân chẳng qua cũng chỉ là cái tư lợi nhỏ nhoi. Mà dân dẫu có gian đến mấy thì vẫn phải có điểm dừng.
Nói về quan là nói đến công quyền! Việc quan là việc ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều đối tượng, thậm chí làm quan to còn ảnh hưởng đến cả quốc gia!
Cái tham của quan dính đến công quyền, mà công quyền thì không chỉ có riêng cái tư lợi như dân. Dân thì thấp cổ bé họng...
Làm quan thì ăn to, nói lớn chứ không thấp cổ bé họng như dân!
Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017
LỊCH SỬ VÀ SỰ NGỘ NHẬN
Sự ngộ nhận về cội nguồn của một dân tộc làm mất đi sự tự tôn của chính dân tộc đó. Sự ngộ nhận đó càng đặc biệt nghiêm trọng khi nó thuộc về các sử gia!
Rất nhiều người đã và đang nghĩ rằng người Việt chúng ta có nguồn gốc và bị đồng hóa bởi người Hán. Vậy lịch sử và sự thật thì sao?
Dân tộc Hoa - Hạ nằm ở vùng Đồng bằng rộng lớn được bồi đắp bởi hai con sông lớn là Trường Giang và Hoàng Hà có tên gọi Trung Nguyên. Lịch sử cổ đại đã chỉ ra rằng phía Nam của vùng đất Trung Nguyên này là các quốc gia của người Bách Việt, bao gồm: Ư Việt, Mân Việt, Nam Việt, Âu Việt và Lạc Việt. Các quốc gia này cùng tồn tại với quốc gia của người Hoa - Hạ đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa thì vẫn còn đất nước Nam Việt và Lạc Việt ở phía Nam.
Lần giở lịch sử Trung Hoa thấy rằng, việc thống nhất các vùng đất của người Bách Việt, người Hoa - Hạ đã bị pha tạp về hệ gen lần thứ nhất. Khi quân Mông Cổ bành trướng toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa thì người Hán đã bị pha tạp hệ gen lần thứ hai và trong lịch sử cận đại, người Hán lại tiếp tục bị pha tạp hệ gen bởi người Mãn với triều đại cuối cùng là nhà Thanh.
Người Bách Việt với nền sản xuất nông nghiệp gắn liền với canh tác lúa nước còn người Hoa - Hạ gắn với sản xuất lúa mì. Mảnh đất Phúc Kiến chính là đất Mân Việt xa xưa và điều đó lý giải tại sao ở hòn đảo Đài Loan cho đến bây giờ người ta vẫn nhổ mạ cấy lúa như vùng Bắc Bộ của chúng ta.
Lần giở lịch sử các dòng họ của Việt Nam, hầu hết các dòng họ lớn đều phát tích từ các vùng đất của người Bách Việt, trong đó họ Trần được khẳng định là người Bách Việt từ Phúc Kiến di cư xuống phía Nam và họ Nguyễn được nhiều tài liệu nghị ngờ là thuần Lạc Việt.
Người Bách Việt gắn liền với trống đồng và chim lạc. Tuy nhiên, số lượng trống đồng ở Việt Nam thì lại nhỏ hơn lượng trống đồng ở các khu vực phía Nam Trung Quốc.
Đến Trung Quốc bạn sẽ cảm nhận rõ ràng sự khác biệt về con người phía Nam và phía Bắc của đất nước này. Với người phía Nam Trung Quốc về hình dáng và văn hóa rất tương đồng với người Việt Nam. Còn phía Bắc lại có dáng vóc của người Mông Cổ. Như vậy, người Hán không thể được coi là dân tộc thuần chủng. Trên thực tế một trong sáu dân tộc lớn tạo lên cộng đồng người Hán là người Jing nếu phiên âm ra tiếng Việt thì chính là người Kinh như người Việt của chúng ta.
Lần giở về truyền thuyết của người Trung Quốc, ông Thần Nông là một vị vua cai quản Trung Hoa cổ đại từ 5.000 năm về trước nhưng lại có cái tên thuần Việt chứng minh rõ ràng sự ảnh hưởng của văn hóa Việt đối với Trung Hoa cổ đại.
Người Nhật cũng với nền văn minh lúa nước, cũng gieo mạ cấy lúa như người Việt chúng ta. Trên thực tế, người Nhật vốn dĩ không phải có gốc tích từ nước Nhật mà là một dân tộc di cư đến đất nước hình con cá chép này và chính người Nhật hiện nay cũng có sự nghi ngờ về nguồn gốc dân tộc của họ với các dân tộc Bách Việt.
Hiện nay, các vùng đất Trung Quốc đã mất hẳn phương thức canh tác nông nghiệp lúa nước của người Việt điều đó chứng tỏ văn hóa Hoa - Hạ đã đồng hóa văn hóa Bách Việt ở đất nước này nhưng điều đó không có nghĩa là người Hoa - Hạ có thể đồng hóa về hệ gen của các cộng đồng người Việt. Nói một cách khác người Hán là một dân tộc bị lai tạp không thuần chủng.
Vậy thì tại sao người Việt lại ngộ nhận bị sự đồng hóa của người Hán mà không khẳng định lại một điều là chính người Hán bị lại tạp về hệ gen với người Việt, Mông và Mãn?
Rất nhiều người đã và đang nghĩ rằng người Việt chúng ta có nguồn gốc và bị đồng hóa bởi người Hán. Vậy lịch sử và sự thật thì sao?
Dân tộc Hoa - Hạ nằm ở vùng Đồng bằng rộng lớn được bồi đắp bởi hai con sông lớn là Trường Giang và Hoàng Hà có tên gọi Trung Nguyên. Lịch sử cổ đại đã chỉ ra rằng phía Nam của vùng đất Trung Nguyên này là các quốc gia của người Bách Việt, bao gồm: Ư Việt, Mân Việt, Nam Việt, Âu Việt và Lạc Việt. Các quốc gia này cùng tồn tại với quốc gia của người Hoa - Hạ đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa thì vẫn còn đất nước Nam Việt và Lạc Việt ở phía Nam.
Lần giở lịch sử Trung Hoa thấy rằng, việc thống nhất các vùng đất của người Bách Việt, người Hoa - Hạ đã bị pha tạp về hệ gen lần thứ nhất. Khi quân Mông Cổ bành trướng toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa thì người Hán đã bị pha tạp hệ gen lần thứ hai và trong lịch sử cận đại, người Hán lại tiếp tục bị pha tạp hệ gen bởi người Mãn với triều đại cuối cùng là nhà Thanh.
Người Bách Việt với nền sản xuất nông nghiệp gắn liền với canh tác lúa nước còn người Hoa - Hạ gắn với sản xuất lúa mì. Mảnh đất Phúc Kiến chính là đất Mân Việt xa xưa và điều đó lý giải tại sao ở hòn đảo Đài Loan cho đến bây giờ người ta vẫn nhổ mạ cấy lúa như vùng Bắc Bộ của chúng ta.
Lần giở lịch sử các dòng họ của Việt Nam, hầu hết các dòng họ lớn đều phát tích từ các vùng đất của người Bách Việt, trong đó họ Trần được khẳng định là người Bách Việt từ Phúc Kiến di cư xuống phía Nam và họ Nguyễn được nhiều tài liệu nghị ngờ là thuần Lạc Việt.
Người Bách Việt gắn liền với trống đồng và chim lạc. Tuy nhiên, số lượng trống đồng ở Việt Nam thì lại nhỏ hơn lượng trống đồng ở các khu vực phía Nam Trung Quốc.
Đến Trung Quốc bạn sẽ cảm nhận rõ ràng sự khác biệt về con người phía Nam và phía Bắc của đất nước này. Với người phía Nam Trung Quốc về hình dáng và văn hóa rất tương đồng với người Việt Nam. Còn phía Bắc lại có dáng vóc của người Mông Cổ. Như vậy, người Hán không thể được coi là dân tộc thuần chủng. Trên thực tế một trong sáu dân tộc lớn tạo lên cộng đồng người Hán là người Jing nếu phiên âm ra tiếng Việt thì chính là người Kinh như người Việt của chúng ta.
Lần giở về truyền thuyết của người Trung Quốc, ông Thần Nông là một vị vua cai quản Trung Hoa cổ đại từ 5.000 năm về trước nhưng lại có cái tên thuần Việt chứng minh rõ ràng sự ảnh hưởng của văn hóa Việt đối với Trung Hoa cổ đại.
Người Nhật cũng với nền văn minh lúa nước, cũng gieo mạ cấy lúa như người Việt chúng ta. Trên thực tế, người Nhật vốn dĩ không phải có gốc tích từ nước Nhật mà là một dân tộc di cư đến đất nước hình con cá chép này và chính người Nhật hiện nay cũng có sự nghi ngờ về nguồn gốc dân tộc của họ với các dân tộc Bách Việt.
Hiện nay, các vùng đất Trung Quốc đã mất hẳn phương thức canh tác nông nghiệp lúa nước của người Việt điều đó chứng tỏ văn hóa Hoa - Hạ đã đồng hóa văn hóa Bách Việt ở đất nước này nhưng điều đó không có nghĩa là người Hoa - Hạ có thể đồng hóa về hệ gen của các cộng đồng người Việt. Nói một cách khác người Hán là một dân tộc bị lai tạp không thuần chủng.
Vậy thì tại sao người Việt lại ngộ nhận bị sự đồng hóa của người Hán mà không khẳng định lại một điều là chính người Hán bị lại tạp về hệ gen với người Việt, Mông và Mãn?
Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016
ĐỐI THOẠI NGẮN
(Tiếp tục về lương tri và trí thức)
Một ông Tiến sỹ phàn nàn:
- Các nhiệm vụ, đề tài khoa học bị cắt xén nhiều quá ông ạ, cứ mỗi thằng nó xẻo một tý đến mình còn có hơn năm mươi phần trăm thôi!
- Vậy à? thế ông có làm nhiều đề tài, nhiệm vụ khoa học không?
- Thì ông bảo Tiến sỹ như tôi thì năm nào mà chả cố chạy một vài cái để làm!
- Thế những cái đề tài, nhiệm vụ khoa học của ông có triển khai trong thực tế, đóng góp cho phát triển xã hội không hay lại vứt vào xó tủ?
- Ông bảo nó cắt xén thế thì chất lượng còn ra gì mà triển khai!
- Ông vẫn biết nó cắt xén, vẫn biết cái sản phẩm ông đẻ ra nó chả ra gì, chả đóng góp gì cho xã hội vậy tại sao ông còn cố để mà làm? Ông ạ, tiền các đề tài nhiệm vụ khoa học lấy từ nguồn ngân sách quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nó lấy từ nguồn thuế được đóng góp từ những đồng tiền thẫm đẫm công sức, mồ hôi và nước mắt của người dân đấy ông ạ!
SỰ KHỐN NẠN CỦA LƯƠNG TRI VÀ SỰ NGU SI CỦA TRÍ THỨC
(Đọc, nghe, cảm nhận và tư duy)
Có một ông Tiến sỹ có chuyên môn chả liên quan, không phân biệt được loài nọ với loài kia, con nào là con đực, con nào là con cái, le ve chụp ảnh, đăng bài thế là được báo chí tung hô coi ông là chuyên gia hàng đầu về một loài động vật, nhất nhất mọi thứ đều tham khảo ý kiến của ông!
Có ông Tiến sỹ vỗ ngực xưng là chuyên gia về thủy điện, đăng đàn chém rầm rầm, khi hỏi ông tại sao ông không phân biệt được đâu là thủy điện hồ chứa điều tiết năm và đâu là thủy điện đập dâng điều tiết ngày đêm thì ông mới thú nhận rằng chuyên ngành của ông chả liên quan gì đến thủy điện!
Có một ông Tiến sỹ còn đương chức, nhất định đòi bằng được việc xây dựng hướng dẫn nội dung quy định về một loại chính sách trong văn bản quy phạm phải theo tư duy và ý kiến của ông. Đến khi bị truy về tính logic, khoa học và thực tiễn của các quy định về chính sách này thì ông mới thú nhận là chả hiểu gì về nó cả!
Vừa rồi, có ông Tiến sỹ lên báo khẳng định chỉ cần xét nghiệm cá chết sau một ngày là ông có thể xác định được nguyên nhân cá chết ở ven biển miền Trung. Cũng mới vừa rồi, khi Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố nguyên nhân cá chết và khẳng định mọi thông số nước biển trong khu vực đều đã ở ngưỡng an toàn thì lại có ông Tiến sỹ lên mặt báo khẳng định: chất ô nhiễm vẫn còn tồn lưu trong trầm tích đáy mà không thèm để ý đến chất ô nhiễm là chất gì và cơ chế phân hủy, tồn tại của nó ra sao!
Với việc phát biểu và tư duy như thế, có ông muốn được báo giới và dư luận tung hô. Có ông lại muốn được thiên hạ biết đến như một nhà hoạch định chính sách tiên phong của nước nhà!
Vâng, tên tuổi của các ông đã nổi như cồn, dư luận và báo chí thậm chí còn tung hô các ông là những nhà khoa học trung thực, có trách nhiệm với xã hội!
Và sự thực thì sao? Với cách làm của các ông, một loạt chính sách trên trời được ra đời, vô bổ và tốn kém, kìm hãm sự phát triển của đất nước! Với phát biểu vô tội vạ của các ông, có những dự án thực sự hiệu quả đối với nền kinh tế và tác động thấp hơn rất nhiều so với các dự án khác cùng loại không thể được thực hiện! Và tồi tệ hơn là sự tê liệt toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội của cả một vùng rộng lớn không phải một ngày, một tháng mà cả chục năm! Không những thế nó còn tác động tiêu cực đến dư luận và xã hội trên toàn bộ đất nước!
Nước Nhật sau Đại thế chiến lần thứ hai là một nước bại trận, nền kinh tế kiệt quệ, nhưng với những nỗ lực phi thường của cả dân tộc, với trách nhiệm của cả cộng đồng trong đó có các trí thức, nhà khoa hoc, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc thứ hai về kinh tế của thế giới! Không có khoa học, công nghệ, không có trí thức có lẽ nước Nhật sẽ không bao giờ đạt được thành tựu vĩ đại như ngày nay, đó chính là tính trách nhiệm và nỗ lực của trí thức Nhật Bản.
Còn ở Việt Nam, sự tàn phá của chiến tranh sẽ không thể nặng nề bằng sự háo danh, vô trách nhiệm của một số trí thức, nhà báo và cả một số quan chức nhà nước cũng như một số người thích thể hiện bản thân với xã hội! Môi trường ở Việt Nam đang bị ô nhiễm cả về tự nhiên và xã hội. Sự phát triển nào cũng có sự đánh đổi, môi trường tự nhiên đã và đang bị đánh đổi để có sự phát triển kinh tế - xã hội và đang được cả xã hội cố gắng chung tay để phục hồi, làm sạch, trả lại cho thế hệ tương lai. Nhưng môi trường xã hội đang bị ô nhiễm bởi thói háo danh, trục lợi, vô trách nhiệm thì đất nước này chỉ càng ngày càng kiệt quệ, dân tộc này không nhận được bất cứ lợi ích gì cả!
Sự háo danh, trục lợi và vô trách nhiệm đó có tên gọi là SỰ KHỐN NẠN CỦA LƯƠNG TRI VÀ SỰ NGU SI CỦA TRÍ THỨC!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)