Vùng đất của người Bách Việt kéo dài từ phía Nam sông Trường Giang, bao gồm: Ư Việt, Mân Việt, Nam Việt, Âu Việt và Lạc Việt. Nhiều vùng đất của người Việt này đã bị Tần Thủy Hoàng xâm lăng và thống nhất vào Trung Hoa bắt đầu từ giai đoạn năm 200 trước công nguyên.
Việt Nam vốn dĩ được coi là hợp thành từ hai tộc Việt, đó là Âu Việt và Lạc Việt. Trên thực tế, người Việt ở Việt Nam không chỉ xuất phát từ hai vùng đất này mà còn từ các vùng khác của người Việt. Đó là điều lý giải sự phát tích của nhiều dòng họ ở Việt Nam, trong đó nhà Trần có nguồn gốc từ Mân Việt (Phúc Kiến hiện nay).
Người Hán (Hoa - Hạ) có phát tích từ Trung Nguyên là vùng đồng bằng giữa sông Trường Giang và Hoàng Hà. Bản chất của người Hán là bành trướng và xâm lăng các vùng đất và quốc gia láng giềng. Tuy nhiên, các vùng đất của người Hán cũng bị một số dân tộc láng giềng xâm lăng, trong đó phải kể đến hai lần người Hán là những kẻ phải chịu nỗi nhục mất nước: thời nhà Nguyên và nhà Thanh. Điều đáng tiếc nhất của các quốc gia xâm lăng Trung Quốc là cuối cùng chính họ lại bị đồng hóa và cũng chính vì lẽ đó người Hán sau quá trình dài của lịch sử lại chỉ là một dân tộc ô hợp và hung hãn.
Sự hung hãn của người Hán cứ lớn dần theo thời gian, cái máu pha trộn của các dân tộc luôn tìm các lấn chiếm các nước láng giềng cứ ngày càng tích tụ. Các vùng đất lân bang bị họ xâm lăng và đồng hóa cứ ngày một kéo dài như: Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông...
Người Việt với lịch sử đau thương và bi tráng đã cứ ngày càng bị người Hán đẩy lùi xuống phía Nam. Số người Việt còn lại ở trên mảnh đất bị xâm lẫn dần dần bị đồng hóa với người Hán. Và vẫn có sự ngộ nhận về nguồn gốc của người Việt kể cả trong giới sử gia phong kiến và đương đại.
Lịch sử lẽ ra đã sang trang và sự đe dọa của người Hán lẽ ra đã khác nếu vua Quang Trung không mất quá sớm trước khi đòi lại được hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây về cho người Việt. Cũng cần lưu ý nhà Thanh vốn dĩ không phải là người Hán mà là người Mãn và cũng không phải vô cớ mà nhà Thanh đồng ý trao trả Quảng Đông và Quảng Tây cho vua Quang Trung sau khi đã kéo quân xâm lược nước Việt. Rất tiếc, lịch sử đã không đứng về người Việt và càng tiếc hơn là các sử gia người Việt chưa bao giờ phân tích rõ lý do nhà Thanh buộc phải đồng ý trao trả hai vùng đất này cho người Việt.
Điều mà các triều đại phong kiến nhà Hán chưa làm được, đó chính là thôn tính biển Đông. Tuy nhiên, hậu duệ của họ lại đang quyết tâm thực hiện điều đó. Sự tồn vong của người Việt và các nước Đông Nam Á lại một lần nữa bị đe dọa.
Niềm tự hào của người Việt với mấy ngàn năm lịch sử đã đi qua chưa bao giờ bị đồng hóa về cả văn hóa và sắc tộc. Người Việt chắc chắn sẽ không ngồi yên nhìn mảnh đất của ông cha bị xâm lấn.
Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2018
Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017
DÂN VÀ QUAN
1. Dân
Nói về dân xin kể câu chuyện mà tôi là người trong cuộc. Khi đó tôi làm cán bộ của Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình:
Câu chuyện xảy ra khi giải phóng mặt bằng ngay giữa khu dân cư đông đúc, đó là thị trấn Hưng Hà.
Dự án cống Đồng Nhân khi đó vì sự bùng nhùng trong giải phóng mặt bằng với người dân mà mãi không triển khai được. Tôi là người được cử xuống để thay một cán bộ giám sát khác, sau khi tìm hiểu mọi việc tôi nói với Chủ tịch Thị trấn: nếu anh quyết tâm việc giải phóng tôi khẳng định là giải quyết được.
Khu vực giải phóng mặt bằng nằm ở giữa khu chợ tự phát cạnh đường quốc lộ, toàn dân có số má, anh chị của Thị trấn. Khi tôi xuống làm việc về giải phóng mặt bằng, hóa ra không phải người dân không muốn thực hiện Dự án mà chẳng qua họ muốn bồi thường theo yêu cầu của họ. Tuy nhiên, yêu cầu đó lại không thể đáp ứng do đất họ tự ý lấn chiếm. Tôi nhớ, có một người đàn ông bặm trợn cầm dao dọa tôi: cán bộ giám sát cũ đã công nhận diện tích giải tỏa nhà anh là 16m2 rồi, chú mà không đồng ý công nhận diện tích đó thì đừng có bước chân ra khỏi đây. Tôi cười nói: sổ đỏ của nhà anh có 12m2 thì tôi có muốn cũng chả dám công nhận diện tích theo ý của anh, anh có chém tôi cũng đành chịu. Mà tôi nói luôn với anh nếu anh chém tôi thì vớ vẩn anh không giữ được cái mạng sống chứ đừng nghĩ đến lợi lộc gì!
Hóa ra có vấn đề giữa cán bộ giải phóng mặt bằng với tính pháp lý về đất đai của người dân nên sự việc nhùng nhằng không đi đến hồi kết. Tuy nhiên, nhờ quyết tâm của vị Chủ tịch Thị trấn và sự lỳ lợm của tôi, việc giải phóng mặt bằng cũng hoàn thành.
Sự việc chưa dừng lại ở đó, một lần có việc đi qua Thị trấn, bất chợt một người đàn ông bặm trợn nhảy ra chặn đầu xe, vẫn người đàn ông dọa chém tôi năm xưa! Anh ta nói: mời chú vào uống nước, tôi cười bảo: tôi lại tưởng anh nhảy ra chặn xe để chém tôi cơ đấy!
Ngồi trong quán nước, anh ta gãi đầu: chú thông cảm, dân thì gian mà quan thì tham. Tuy nhiên, nghe chú phân tích anh cũng thấy cái sai của anh. Ai chả có tý gian, không gian được thì thôi... À mà, từ ngày làm xong công trình, mọi thứ khang trang hẳn chú ạ!
Ờ nhỉ! Dân thì gian, quan thì tham. Nhưng mà dân có gian thì vẫn biết đến điểm dừng...
2. Quan
Nói về quan chắc cũng phải nói qua về tôi: làm trong cơ quan hành chính, cũng có hệ số trách nhiệm mặc dù bé tý, vả lại có đôi chỗ, đôi lúc được người nọ, người kia gọi lại quan anh, quan bác... Vì vậy,có lẽ tôi cũng được gọi là quan dù chỉ là chức quan Bật Mã Ôn!
Nói về quan, có lẽ phải nói lại một tý về dân. Dân thì gian, cái gian của dân dẫu sao cũng chỉ bé bằng cái móng tay, cái gian của dân chẳng qua cũng chỉ là cái tư lợi nhỏ nhoi. Mà dân dẫu có gian đến mấy thì vẫn phải có điểm dừng.
Nói về quan là nói đến công quyền! Việc quan là việc ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều đối tượng, thậm chí làm quan to còn ảnh hưởng đến cả quốc gia!
Cái tham của quan dính đến công quyền, mà công quyền thì không chỉ có riêng cái tư lợi như dân. Dân thì thấp cổ bé họng...
Làm quan thì ăn to, nói lớn chứ không thấp cổ bé họng như dân!
Nói về dân xin kể câu chuyện mà tôi là người trong cuộc. Khi đó tôi làm cán bộ của Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình:
Câu chuyện xảy ra khi giải phóng mặt bằng ngay giữa khu dân cư đông đúc, đó là thị trấn Hưng Hà.
Dự án cống Đồng Nhân khi đó vì sự bùng nhùng trong giải phóng mặt bằng với người dân mà mãi không triển khai được. Tôi là người được cử xuống để thay một cán bộ giám sát khác, sau khi tìm hiểu mọi việc tôi nói với Chủ tịch Thị trấn: nếu anh quyết tâm việc giải phóng tôi khẳng định là giải quyết được.
Khu vực giải phóng mặt bằng nằm ở giữa khu chợ tự phát cạnh đường quốc lộ, toàn dân có số má, anh chị của Thị trấn. Khi tôi xuống làm việc về giải phóng mặt bằng, hóa ra không phải người dân không muốn thực hiện Dự án mà chẳng qua họ muốn bồi thường theo yêu cầu của họ. Tuy nhiên, yêu cầu đó lại không thể đáp ứng do đất họ tự ý lấn chiếm. Tôi nhớ, có một người đàn ông bặm trợn cầm dao dọa tôi: cán bộ giám sát cũ đã công nhận diện tích giải tỏa nhà anh là 16m2 rồi, chú mà không đồng ý công nhận diện tích đó thì đừng có bước chân ra khỏi đây. Tôi cười nói: sổ đỏ của nhà anh có 12m2 thì tôi có muốn cũng chả dám công nhận diện tích theo ý của anh, anh có chém tôi cũng đành chịu. Mà tôi nói luôn với anh nếu anh chém tôi thì vớ vẩn anh không giữ được cái mạng sống chứ đừng nghĩ đến lợi lộc gì!
Hóa ra có vấn đề giữa cán bộ giải phóng mặt bằng với tính pháp lý về đất đai của người dân nên sự việc nhùng nhằng không đi đến hồi kết. Tuy nhiên, nhờ quyết tâm của vị Chủ tịch Thị trấn và sự lỳ lợm của tôi, việc giải phóng mặt bằng cũng hoàn thành.
Sự việc chưa dừng lại ở đó, một lần có việc đi qua Thị trấn, bất chợt một người đàn ông bặm trợn nhảy ra chặn đầu xe, vẫn người đàn ông dọa chém tôi năm xưa! Anh ta nói: mời chú vào uống nước, tôi cười bảo: tôi lại tưởng anh nhảy ra chặn xe để chém tôi cơ đấy!
Ngồi trong quán nước, anh ta gãi đầu: chú thông cảm, dân thì gian mà quan thì tham. Tuy nhiên, nghe chú phân tích anh cũng thấy cái sai của anh. Ai chả có tý gian, không gian được thì thôi... À mà, từ ngày làm xong công trình, mọi thứ khang trang hẳn chú ạ!
Ờ nhỉ! Dân thì gian, quan thì tham. Nhưng mà dân có gian thì vẫn biết đến điểm dừng...
2. Quan
Nói về quan chắc cũng phải nói qua về tôi: làm trong cơ quan hành chính, cũng có hệ số trách nhiệm mặc dù bé tý, vả lại có đôi chỗ, đôi lúc được người nọ, người kia gọi lại quan anh, quan bác... Vì vậy,có lẽ tôi cũng được gọi là quan dù chỉ là chức quan Bật Mã Ôn!
Nói về quan, có lẽ phải nói lại một tý về dân. Dân thì gian, cái gian của dân dẫu sao cũng chỉ bé bằng cái móng tay, cái gian của dân chẳng qua cũng chỉ là cái tư lợi nhỏ nhoi. Mà dân dẫu có gian đến mấy thì vẫn phải có điểm dừng.
Nói về quan là nói đến công quyền! Việc quan là việc ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều đối tượng, thậm chí làm quan to còn ảnh hưởng đến cả quốc gia!
Cái tham của quan dính đến công quyền, mà công quyền thì không chỉ có riêng cái tư lợi như dân. Dân thì thấp cổ bé họng...
Làm quan thì ăn to, nói lớn chứ không thấp cổ bé họng như dân!
Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017
LỊCH SỬ VÀ SỰ NGỘ NHẬN
Sự ngộ nhận về cội nguồn của một dân tộc làm mất đi sự tự tôn của chính dân tộc đó. Sự ngộ nhận đó càng đặc biệt nghiêm trọng khi nó thuộc về các sử gia!
Rất nhiều người đã và đang nghĩ rằng người Việt chúng ta có nguồn gốc và bị đồng hóa bởi người Hán. Vậy lịch sử và sự thật thì sao?
Dân tộc Hoa - Hạ nằm ở vùng Đồng bằng rộng lớn được bồi đắp bởi hai con sông lớn là Trường Giang và Hoàng Hà có tên gọi Trung Nguyên. Lịch sử cổ đại đã chỉ ra rằng phía Nam của vùng đất Trung Nguyên này là các quốc gia của người Bách Việt, bao gồm: Ư Việt, Mân Việt, Nam Việt, Âu Việt và Lạc Việt. Các quốc gia này cùng tồn tại với quốc gia của người Hoa - Hạ đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa thì vẫn còn đất nước Nam Việt và Lạc Việt ở phía Nam.
Lần giở lịch sử Trung Hoa thấy rằng, việc thống nhất các vùng đất của người Bách Việt, người Hoa - Hạ đã bị pha tạp về hệ gen lần thứ nhất. Khi quân Mông Cổ bành trướng toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa thì người Hán đã bị pha tạp hệ gen lần thứ hai và trong lịch sử cận đại, người Hán lại tiếp tục bị pha tạp hệ gen bởi người Mãn với triều đại cuối cùng là nhà Thanh.
Người Bách Việt với nền sản xuất nông nghiệp gắn liền với canh tác lúa nước còn người Hoa - Hạ gắn với sản xuất lúa mì. Mảnh đất Phúc Kiến chính là đất Mân Việt xa xưa và điều đó lý giải tại sao ở hòn đảo Đài Loan cho đến bây giờ người ta vẫn nhổ mạ cấy lúa như vùng Bắc Bộ của chúng ta.
Lần giở lịch sử các dòng họ của Việt Nam, hầu hết các dòng họ lớn đều phát tích từ các vùng đất của người Bách Việt, trong đó họ Trần được khẳng định là người Bách Việt từ Phúc Kiến di cư xuống phía Nam và họ Nguyễn được nhiều tài liệu nghị ngờ là thuần Lạc Việt.
Người Bách Việt gắn liền với trống đồng và chim lạc. Tuy nhiên, số lượng trống đồng ở Việt Nam thì lại nhỏ hơn lượng trống đồng ở các khu vực phía Nam Trung Quốc.
Đến Trung Quốc bạn sẽ cảm nhận rõ ràng sự khác biệt về con người phía Nam và phía Bắc của đất nước này. Với người phía Nam Trung Quốc về hình dáng và văn hóa rất tương đồng với người Việt Nam. Còn phía Bắc lại có dáng vóc của người Mông Cổ. Như vậy, người Hán không thể được coi là dân tộc thuần chủng. Trên thực tế một trong sáu dân tộc lớn tạo lên cộng đồng người Hán là người Jing nếu phiên âm ra tiếng Việt thì chính là người Kinh như người Việt của chúng ta.
Lần giở về truyền thuyết của người Trung Quốc, ông Thần Nông là một vị vua cai quản Trung Hoa cổ đại từ 5.000 năm về trước nhưng lại có cái tên thuần Việt chứng minh rõ ràng sự ảnh hưởng của văn hóa Việt đối với Trung Hoa cổ đại.
Người Nhật cũng với nền văn minh lúa nước, cũng gieo mạ cấy lúa như người Việt chúng ta. Trên thực tế, người Nhật vốn dĩ không phải có gốc tích từ nước Nhật mà là một dân tộc di cư đến đất nước hình con cá chép này và chính người Nhật hiện nay cũng có sự nghi ngờ về nguồn gốc dân tộc của họ với các dân tộc Bách Việt.
Hiện nay, các vùng đất Trung Quốc đã mất hẳn phương thức canh tác nông nghiệp lúa nước của người Việt điều đó chứng tỏ văn hóa Hoa - Hạ đã đồng hóa văn hóa Bách Việt ở đất nước này nhưng điều đó không có nghĩa là người Hoa - Hạ có thể đồng hóa về hệ gen của các cộng đồng người Việt. Nói một cách khác người Hán là một dân tộc bị lai tạp không thuần chủng.
Vậy thì tại sao người Việt lại ngộ nhận bị sự đồng hóa của người Hán mà không khẳng định lại một điều là chính người Hán bị lại tạp về hệ gen với người Việt, Mông và Mãn?
Rất nhiều người đã và đang nghĩ rằng người Việt chúng ta có nguồn gốc và bị đồng hóa bởi người Hán. Vậy lịch sử và sự thật thì sao?
Dân tộc Hoa - Hạ nằm ở vùng Đồng bằng rộng lớn được bồi đắp bởi hai con sông lớn là Trường Giang và Hoàng Hà có tên gọi Trung Nguyên. Lịch sử cổ đại đã chỉ ra rằng phía Nam của vùng đất Trung Nguyên này là các quốc gia của người Bách Việt, bao gồm: Ư Việt, Mân Việt, Nam Việt, Âu Việt và Lạc Việt. Các quốc gia này cùng tồn tại với quốc gia của người Hoa - Hạ đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa thì vẫn còn đất nước Nam Việt và Lạc Việt ở phía Nam.
Lần giở lịch sử Trung Hoa thấy rằng, việc thống nhất các vùng đất của người Bách Việt, người Hoa - Hạ đã bị pha tạp về hệ gen lần thứ nhất. Khi quân Mông Cổ bành trướng toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa thì người Hán đã bị pha tạp hệ gen lần thứ hai và trong lịch sử cận đại, người Hán lại tiếp tục bị pha tạp hệ gen bởi người Mãn với triều đại cuối cùng là nhà Thanh.
Người Bách Việt với nền sản xuất nông nghiệp gắn liền với canh tác lúa nước còn người Hoa - Hạ gắn với sản xuất lúa mì. Mảnh đất Phúc Kiến chính là đất Mân Việt xa xưa và điều đó lý giải tại sao ở hòn đảo Đài Loan cho đến bây giờ người ta vẫn nhổ mạ cấy lúa như vùng Bắc Bộ của chúng ta.
Lần giở lịch sử các dòng họ của Việt Nam, hầu hết các dòng họ lớn đều phát tích từ các vùng đất của người Bách Việt, trong đó họ Trần được khẳng định là người Bách Việt từ Phúc Kiến di cư xuống phía Nam và họ Nguyễn được nhiều tài liệu nghị ngờ là thuần Lạc Việt.
Người Bách Việt gắn liền với trống đồng và chim lạc. Tuy nhiên, số lượng trống đồng ở Việt Nam thì lại nhỏ hơn lượng trống đồng ở các khu vực phía Nam Trung Quốc.
Đến Trung Quốc bạn sẽ cảm nhận rõ ràng sự khác biệt về con người phía Nam và phía Bắc của đất nước này. Với người phía Nam Trung Quốc về hình dáng và văn hóa rất tương đồng với người Việt Nam. Còn phía Bắc lại có dáng vóc của người Mông Cổ. Như vậy, người Hán không thể được coi là dân tộc thuần chủng. Trên thực tế một trong sáu dân tộc lớn tạo lên cộng đồng người Hán là người Jing nếu phiên âm ra tiếng Việt thì chính là người Kinh như người Việt của chúng ta.
Lần giở về truyền thuyết của người Trung Quốc, ông Thần Nông là một vị vua cai quản Trung Hoa cổ đại từ 5.000 năm về trước nhưng lại có cái tên thuần Việt chứng minh rõ ràng sự ảnh hưởng của văn hóa Việt đối với Trung Hoa cổ đại.
Người Nhật cũng với nền văn minh lúa nước, cũng gieo mạ cấy lúa như người Việt chúng ta. Trên thực tế, người Nhật vốn dĩ không phải có gốc tích từ nước Nhật mà là một dân tộc di cư đến đất nước hình con cá chép này và chính người Nhật hiện nay cũng có sự nghi ngờ về nguồn gốc dân tộc của họ với các dân tộc Bách Việt.
Hiện nay, các vùng đất Trung Quốc đã mất hẳn phương thức canh tác nông nghiệp lúa nước của người Việt điều đó chứng tỏ văn hóa Hoa - Hạ đã đồng hóa văn hóa Bách Việt ở đất nước này nhưng điều đó không có nghĩa là người Hoa - Hạ có thể đồng hóa về hệ gen của các cộng đồng người Việt. Nói một cách khác người Hán là một dân tộc bị lai tạp không thuần chủng.
Vậy thì tại sao người Việt lại ngộ nhận bị sự đồng hóa của người Hán mà không khẳng định lại một điều là chính người Hán bị lại tạp về hệ gen với người Việt, Mông và Mãn?
Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016
ĐỐI THOẠI NGẮN
(Tiếp tục về lương tri và trí thức)
Một ông Tiến sỹ phàn nàn:
- Các nhiệm vụ, đề tài khoa học bị cắt xén nhiều quá ông ạ, cứ mỗi thằng nó xẻo một tý đến mình còn có hơn năm mươi phần trăm thôi!
- Vậy à? thế ông có làm nhiều đề tài, nhiệm vụ khoa học không?
- Thì ông bảo Tiến sỹ như tôi thì năm nào mà chả cố chạy một vài cái để làm!
- Thế những cái đề tài, nhiệm vụ khoa học của ông có triển khai trong thực tế, đóng góp cho phát triển xã hội không hay lại vứt vào xó tủ?
- Ông bảo nó cắt xén thế thì chất lượng còn ra gì mà triển khai!
- Ông vẫn biết nó cắt xén, vẫn biết cái sản phẩm ông đẻ ra nó chả ra gì, chả đóng góp gì cho xã hội vậy tại sao ông còn cố để mà làm? Ông ạ, tiền các đề tài nhiệm vụ khoa học lấy từ nguồn ngân sách quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nó lấy từ nguồn thuế được đóng góp từ những đồng tiền thẫm đẫm công sức, mồ hôi và nước mắt của người dân đấy ông ạ!
SỰ KHỐN NẠN CỦA LƯƠNG TRI VÀ SỰ NGU SI CỦA TRÍ THỨC
(Đọc, nghe, cảm nhận và tư duy)
Có một ông Tiến sỹ có chuyên môn chả liên quan, không phân biệt được loài nọ với loài kia, con nào là con đực, con nào là con cái, le ve chụp ảnh, đăng bài thế là được báo chí tung hô coi ông là chuyên gia hàng đầu về một loài động vật, nhất nhất mọi thứ đều tham khảo ý kiến của ông!
Có ông Tiến sỹ vỗ ngực xưng là chuyên gia về thủy điện, đăng đàn chém rầm rầm, khi hỏi ông tại sao ông không phân biệt được đâu là thủy điện hồ chứa điều tiết năm và đâu là thủy điện đập dâng điều tiết ngày đêm thì ông mới thú nhận rằng chuyên ngành của ông chả liên quan gì đến thủy điện!
Có một ông Tiến sỹ còn đương chức, nhất định đòi bằng được việc xây dựng hướng dẫn nội dung quy định về một loại chính sách trong văn bản quy phạm phải theo tư duy và ý kiến của ông. Đến khi bị truy về tính logic, khoa học và thực tiễn của các quy định về chính sách này thì ông mới thú nhận là chả hiểu gì về nó cả!
Vừa rồi, có ông Tiến sỹ lên báo khẳng định chỉ cần xét nghiệm cá chết sau một ngày là ông có thể xác định được nguyên nhân cá chết ở ven biển miền Trung. Cũng mới vừa rồi, khi Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố nguyên nhân cá chết và khẳng định mọi thông số nước biển trong khu vực đều đã ở ngưỡng an toàn thì lại có ông Tiến sỹ lên mặt báo khẳng định: chất ô nhiễm vẫn còn tồn lưu trong trầm tích đáy mà không thèm để ý đến chất ô nhiễm là chất gì và cơ chế phân hủy, tồn tại của nó ra sao!
Với việc phát biểu và tư duy như thế, có ông muốn được báo giới và dư luận tung hô. Có ông lại muốn được thiên hạ biết đến như một nhà hoạch định chính sách tiên phong của nước nhà!
Vâng, tên tuổi của các ông đã nổi như cồn, dư luận và báo chí thậm chí còn tung hô các ông là những nhà khoa học trung thực, có trách nhiệm với xã hội!
Và sự thực thì sao? Với cách làm của các ông, một loạt chính sách trên trời được ra đời, vô bổ và tốn kém, kìm hãm sự phát triển của đất nước! Với phát biểu vô tội vạ của các ông, có những dự án thực sự hiệu quả đối với nền kinh tế và tác động thấp hơn rất nhiều so với các dự án khác cùng loại không thể được thực hiện! Và tồi tệ hơn là sự tê liệt toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội của cả một vùng rộng lớn không phải một ngày, một tháng mà cả chục năm! Không những thế nó còn tác động tiêu cực đến dư luận và xã hội trên toàn bộ đất nước!
Nước Nhật sau Đại thế chiến lần thứ hai là một nước bại trận, nền kinh tế kiệt quệ, nhưng với những nỗ lực phi thường của cả dân tộc, với trách nhiệm của cả cộng đồng trong đó có các trí thức, nhà khoa hoc, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc thứ hai về kinh tế của thế giới! Không có khoa học, công nghệ, không có trí thức có lẽ nước Nhật sẽ không bao giờ đạt được thành tựu vĩ đại như ngày nay, đó chính là tính trách nhiệm và nỗ lực của trí thức Nhật Bản.
Còn ở Việt Nam, sự tàn phá của chiến tranh sẽ không thể nặng nề bằng sự háo danh, vô trách nhiệm của một số trí thức, nhà báo và cả một số quan chức nhà nước cũng như một số người thích thể hiện bản thân với xã hội! Môi trường ở Việt Nam đang bị ô nhiễm cả về tự nhiên và xã hội. Sự phát triển nào cũng có sự đánh đổi, môi trường tự nhiên đã và đang bị đánh đổi để có sự phát triển kinh tế - xã hội và đang được cả xã hội cố gắng chung tay để phục hồi, làm sạch, trả lại cho thế hệ tương lai. Nhưng môi trường xã hội đang bị ô nhiễm bởi thói háo danh, trục lợi, vô trách nhiệm thì đất nước này chỉ càng ngày càng kiệt quệ, dân tộc này không nhận được bất cứ lợi ích gì cả!
Sự háo danh, trục lợi và vô trách nhiệm đó có tên gọi là SỰ KHỐN NẠN CỦA LƯƠNG TRI VÀ SỰ NGU SI CỦA TRÍ THỨC!
NHÀ CẦM QUYỀN VÀ DƯ LUẬN
Khái niệm 1: Nhà cầm quyền biết lắng nghe và tôn trọng dư luận là một Nhà cầm quyền tốt, biết đặt lợi ích đất nước, lợi ích dân tộc lên trên lợi ích của những người cầm quyền.
Khái niệm 2: Nhà cầm quyền mà chà đạp hoặc phớt lờ dư luận là Nhà cầm quyền yếu kém và tàn độc.
Khái niệm 3: Nhà cầm quyền mà luôn chạy theo, tìm cách lấy lòng dư luận là Nhà cầm quyền đớn hèn; Nhà cầm quyền mà tìm cách định hướng dư luận để bóp méo sự thật là Nhà cầm quyền đê tiện.
Trên thực tế, Khái niệm 1 nhiều khi bị nhầm lẫn và đánh tráo với Khái niệm 2 và Khái niệm 3 cũng bởi chính dư luận vì dư luận lẫn lộn cả đúng, sai, tốt, xấu! Khi Khái niệm 2 và Khái niệm 3 cùng tồn tại trong một Nhà cầm quyền thì đó là khi sự yếu kém, tàn độc, đớn hèn và đê tiện cùng tồn tại.
Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014
QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG: SỰ THỐNG NHẤT TRONG QUẢN LÝ VÀ TIỀN ĐỀ CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
I. Sự bất cập của công tác quy hoạch
hiện nay và vai trò của Quy hoạch bảo vệ môi trường:
Hiện nay, các loại hình quy hoạch phát triển chưa có
được sự gắn kết giữa định hướng phát triển kinh tế - xã hội với các yêu cầu về
quản lý và bảo vệ môi trường tự nhiên, sinh thái, môi trường sống và các giá
trị bảo tồn văn hóa lịch sử... Vì vậy, trên thực tế đã xảy ra sự chồng chéo và
mâu thuẫn giữa các quy hoạch phát triển dẫn đến sự phát vỡ cân bằng giữa bảo vệ
môi trường, bảo tồn đa dạng sịnh học, giá trị lịch sử văn hóa và sự lãng phí,
kém hiệu quả trong công tác quy hoạch.
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, đối tượng phải
thực hiện báo cáo đánh giá môi trường chiến lược bao gồm 6 loại hình quy hoạch.
Tuy nhiên, việc thực hiện đánh giá môi trường chiến lược đối với các quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực gặp
không ít khó khăn và vướng mắc do cơ quan thực hiện quy hoạch không có sự
chuyên sâu trong công tác bảo quản lý và vệ môi trường và cũng không có công
cụ, thông tin, cơ sở dữ liệu để phân tích, đánh giá sự phù hợp của các quan
điểm mục tiêu phát triển với các quan điểm, mục tiêu về quản lý và bảo vệ môi
trường trong phạm vi vùng lãnh thổ thực hiện quy hoạch. Mặt khác, hiện nay rất
nhiều quy hoạch phát triển trên cùng một vùng lãnh thổ có sự mâu thuẫn, chồng
chéo về phạm vi, định hướng và giải phát thực hiện đẫn đến thiếu khả thi khi
triển khai thực tế và thường phải điều chỉnh phương án quy hoạch do không đáp
ứng các tiêu chí phát triển được đề xuất khi lập quy hoạch.
Với việc phân tích hiện trạng môi trường và điều kiện
địa lý, tự nhiên, xã hội và sinh thái trong vùng quy hoạch, phân vùng môi
trường theo mục tiêu được xác lập và phân tích các vấn đề liên quan đến hệ
thống quản lý và các yêu cầu chung về bảo vệ môi trường theo xu thế phát triển
của các ngành kinh tế - xã hội của vùng quy hoạch để đưa ra các định hướng về
quản lý và bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và thảm phủ thực vật,
bảo vệ các giá trị văn hóa, lịch sử trong vùng quy hoạch và giải pháp thực
hiện, quy hoạch bảo vệ môi trường sẽ xác lập các tiêu chí chung nhằm quản lý
thống nhất về môi trường, tạo hàng lang để các quy hoạch phát triển xác lập các
tiêu chí, mục tiêu phát triển phù hợp với điều kiện địa lý, tự nhiên, sinh thái
nhằm đảm bảo hài hòa giữa các định hướng và giải pháp thực hiện dựa trên 3 trụ
cột kinh tế - xã hội - môi trường.
Việc thực hiện
đánh giá môi trường chiến lược cho các loại hình quy hoạch hiện nay gặp nhiều
khó khăn do cơ quan thực hiện quy hoạch phát triển không xác định được hiện
trạng, diễn biến của các thành phần môi trường và định hướng quản lý và bảo vệ
môi trường. Do vậy việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường sẽ tạo điều kiện
để nâng cao hiệu quả của ĐMC trong vai trò là công cụ phân tích, dự báo các tác
động đến môi trường của các quy hoạch phát triển trong quá trình lập quy hoạch
và đánh giá mức độ phù hợp của các định hướng, mục tiêu, giải pháp phát triển
với các yêu cầu về quản lý và bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền
vững.
Môi trường có ý nghĩa không gian quan trọng mang ý
nghĩa mở và không thể chia cắt theo địa giới hành chính, quản lý và bảo vệ môi
trường đòi hỏi có sự thống nhất theo không gian và vùng lãng thổ từ trung ương
đến địa phương. Do vậy, các nội dung về quản lý và bảo vệ môi trường phải được
xác lập tổng hợp để thực hiện một các thống nhất từ trung ương đến địa phương
và giữa các ngành, lĩnh vực phát triển làm cơ sở để phân tích, đề xuất các định
hướng, giải pháp phát triển hài hòa lợi ích giữa các địa phương và các ngành,
lĩnh vực. Với các phân tích nêu trên, việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi
trường có vai trò rất quan trọng, tạo ra động lực và hành lang cho các hoạt
động phát triển đảm bảo hài hòa 3 trụ cột kinh tế - xã hội – môi trường.
Vai trò của Quy hoạch bảo vệ môi
trường đối với các quy hoạch phát triển là hết sức rõ ràng:
- Tạo cơ sở giúp các quy hoạch phát
triển có được các định hướng phù hợp với các định hướng của quy hoạch môi
trường, giảm chi phí và thời gian lập quy hoạch phát triển;
- Đưa ra các định hướng phát triển phù
hợp với môi trường nền và diễn biến môi trường trong kỳ quy hoạch nhằm hài hòa
giữa mục tiêu phát triển KT-XH và bảo vệ
môi trường tự nhiên, sinh thái, môi trường sống và các giá trị bảo tồn văn hóa
lịch sử...
- Thực hiện phục vụ việc sắp xếp, bố
trí các hoạt động, biện pháp bảo vệ môi trường cho các vùng lãnh thổ đảm
bảo 3 trụ cột kinh tế - xã hội – môi trường.
- Tạo điều kiện để đối sánh giữa quan điểm mục tiêu
phát triển của quy hoạch và các quan điểm mục tiêu về phân vùng môi trường, các
yêu cầu về bảo vệ môi trường theo phân vùng môi trường đã được xác định.
Như vậy, Quy hoạch môi trường không có
mâu thuẫn và chồng chéo với các quy hoạch phát triển. Với các mục tiêu và nội
dung của Quy hoạch môi trường, việc hỗ trợ và hậu thuẫn làm tăng sự thống nhất
giữa các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành
trong một vùng quy hoạch trên cở sở các nội dung và định hướng về quản lý môi
trường là rất rõ ràng. Có thể khẳng định: Quy hoạch môi trường sẽ làm giảm sự
mâu thuẫn và chồng chéo giữa các quy hoạch phát triển đã, đang và sẽ thực hiện
trong cùng một vùng quy hoạch.
II. Vai trò chủ đạo của quy hoạch bảo vệ
môi trường trong quản lý, giám sát, bảo vệ môi trương, bảo tồn đa dạng sinh học
và bố trí hạ tầng xử lý môi trường:
Theo các Luật Bảo vệ môi trường năm
2005, Luật Bảo tồn đa dạng sinh học, Luật Tài nguyên nước và Luật Xây dựng,
hiện nay đã có các quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, bảo vệ môi trường,
bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường. Tuy nhiên, trên
thực tế các quy hoạch này có sự bất cập chưa thực sự đáp ứng được các mục tiêu
về quản lý, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và các định hướng mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Với việc đưa công cụ Quy hoạch bảo vệ
môi trường vào Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, công cụ này sẽ có vai
trò chủ đạo cho các loại hình quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, bảo vệ
môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường gắn kết
chặt chẽ với thực trạng môi trường và gắn kết với các hoạt động phát triển
trong vùng quy hoạch.
Quy hoạch các vị trí quan trắc môi
trường hiện nay đã và đang được triển khai thực hiện nhằm đáp ứng các yêu cầu
quản lý, giám sát chất lượng môi trường. Tuy nhiên, việc bố trí các trạm quan
trắc môi trường cần được gắn kết chặt chẽ với phân vùng môi trường nhằm đưa ra
mật độ trạm quan trắc, giám sát phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội và các định hướng phát triển phù hợp với mức độ tác động đến môi trường của
các hoạt động phát triển trong hành lang các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn
được áp dụng cho từng phân vùng môi trường và đảm bảo các mục tiêu, định hướng
được đặt ra trong quy hoạch bảo vệ môi trường.
Hiện nay, việc quy hoạch bảo tồn đa
dạng sinh học, quy hoạch vườn quốc gia, rừng phòng hộ đang có những bất cập và
tác động ngược trở lại với hiện trạng và định hướng phát triển kinh tế - xã
hội. Rất nhiều khu vực thuộc các quy hoạch này đã được chuyển đổi thành rừng
sản xuất hoặc được quy hoạch quỹ dành cho các hoạt động phát triển. Như vậy
giữa các quy hoạch này với các quy hoạch phát triển cho sự mâu thuẫn và gây khó
khăn cho các ngành, lĩnh vực trong việc thực hiện các giải pháp của phương án
phát triển. Vì vậy, cần có phân vùng và định hướng cụ thể các tiêu chí quản lý,
bảo vệ và bảo tồn để hài hòa giữa mục tiêu của các quy hoạch bảo tồn, phát
triển rừng với thực trạng và quy hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực. Quy
hoạch bảo vệ môi trường sẽ làm chức năng kết nối quá trình thực hiện các quy
hoạch phát triển và bảo tồn.
Trên thực tế, quy hoạch tài nguyên
nước và các quy hoạch hệ thống xử lý môi trường chưa thực sự gắn kết với các
quy hoạch phát triển tạo ra sự bất hợp lý trong bảo vệ tài nguyên nước và xây
dựng hạ tầng hệ thống xử lý môi trường. Việc bố trí các hệ thống xử lý môi
trường tại khu vực nhạy cảm hoặc có khả năng chịu tác động của các điều kiện
địa hình, địa chất và địa lý tự nhiên đôi khi xảy ra tác động ngược là gia tăng
ô nhiễm môi trường. Điển hỉnh là việc bố trí công trình xử lý môi trường ở vùng
đất trũng thường xuyên chịu tác động của lũ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Việc định hướng về quản lý, xử lý chất thải và giải pháp chung về bố trí các hệ
thống hạ tầng xử lý môi trường theo điều kiện tự nhiên và áp lực của phát triển
kinh tế - xã hội sẽ giúp giải quyết các vấn đề có liên quan đến các quy hoạch
này.
Quy hoạch sử dụng đất thực chất cũng
là loại hình quy hoạch không gian dựa trên các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, quy hoạch bảo tồn và quy hoạch hệ thống xử lý môi trường. Tuy nhiên do các
phát triển, quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, bảo vệ môi trường, bảo
tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường chưa thực sự gắn kết
với công tác quản lý và bảo vệ môi trường nên xảy ra nhiều bất cập trong thực
hiện và thường xuyên phải tính đến các phương án điều chỉnh để phụ hợp với quá
trình phát triển.
Như vậy, quy hoạch bảo vệ môi trường
không làm thay nhiệm vụ của các quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, bảo
vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường. Với
các nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường, nó sẽ đóng vai trò chủ đạo trong
việc định hướng các quy hoạch này phù hợp với quá trình thực hiện các phương án
phát triển, đảm bảo phát triển bền vững.
III. Thực hiện quy hoạch bảo vệ môi
trường:
Trên thực tế trong quá trình xây dựng Luật Bảo vệ môi
trường năm 1993 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, các nhà quản lý môi trường
đã xây dựng các ý tưởng vệ quy hoạch môi trường. Tuy nhiên, phương pháp luận và
sự đồng thuận trong việc lập quy hoạch môi trường chưa cho phép xây dựng các
quy hoạch về môi trường.
Trong những năm vừa qua, nhận thức được tầm quan trọng
của quy hoạch về môi trường, đã có rất nhiều ngành, lĩnh vực và địa phương tiến
hành lập quy hoạch môi trường hoặc quy hoạch bảo vệ môi trường. Trên thực tế,
các quy hoạch về môi trường này cũng đã đóng góp một phần hữu hiệu trong quản
lý và là nền tảng để Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng phương pháp luận về
quy hoạch bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện phát triển trong giai đoạn
sắp tới của Việt Nam.
Song hành với các áp lực trong nước đòi hỏi phải có
quy hoạch về môi trường để đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo vệ song hành với phát
triển bền vững, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã nghiên cứu các phương pháp
luận về quy hoạch của một số nước Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á. Đặc biệt là mô
hình của Nhật Bản, một Quốc gia có điều kiện tương đồng về bản sắc văn hóa, dân
tộc, địa lý và đi trước chúng ta nhiều năm trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, đã có những trả giá vô cùng đắt khi đánh đổi giữa phát triển kinh tế -
xã hội với sự suy thoái, ô nhiễm môi trường trầm trọng trong thập niên 60 của
thế kỷ trước.
Dưới sự giúp đỡ của Nhật Bản thông qua cơ quan hợp tác
phát triển JICA, tỉnh Quảng Ninh đã lập Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh,
Quy hoạch Môi trường Vịnh Hạ Long nhằm quản lý và bảo vệ môi trường hài hòa với
các mục tiêu phát triển, mục tiêu bảo vệ di sản văn hóa Vịnh Hạ Long. Đây là mô
hình quan trọng để định hướng các nội dung liên quan đến quy hoạch bảo vệ môi
trường ở Việt Nam trong giai đoạn vừa đảm bảo phát triển vừa từng bước nâng tầm
trong quản lý và bảo vệ môi trường.
Trong quá trình Dự thảo Luật bảo vệ môi trường để
trình Quốc hội thông qua vào năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy sự
cấp bách cần thực hiện Quy hoạch bảo vệ môi trường để đảm bảo phát triển hài hòa
trên 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường và đây cũng là thời điển chín mồi
để luật hóa các nội dung liên quan đến Quy hoạch bảo vệ môi trường. Quy hoạch
bảo vệ môi trường cần được thực hiện thống nhất trong cả nước do cơ quan được
giao trọng trách quản lý môi trường là Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì có
sự tham gia và đồng thuận của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan làm cơ sở
để hài hòa giữa các mục tiêu phát triển và mục tiêu quản lý và bảo vệ môi
trường. Thẩm quyền lập, thẩm định, thực hiện và các nội dung cơ bản của Quy
hoạch bảo vệ môi trường đã được cơ quan Dự thảo soạn thảo và bổ sung sửa đổi
trên cơ sở tham vấn ý kiến của các Đại biểu Quốc hội, các Bộ, ngành, địa phương
và các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực quản lý môi trường.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)