Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

ĐỐI THOẠI NGẮN

(Tiếp tục về lương tri và trí thức)
Một ông Tiến sỹ phàn nàn:
- Các nhiệm vụ, đề tài khoa học bị cắt xén nhiều quá ông ạ, cứ mỗi thằng nó xẻo một tý đến mình còn có hơn năm mươi phần trăm thôi!
- Vậy à? thế ông có làm nhiều đề tài, nhiệm vụ khoa học không?
- Thì ông bảo Tiến sỹ như tôi thì năm nào mà chả cố chạy một vài cái để làm!
- Thế những cái đề tài, nhiệm vụ khoa học của ông có triển khai trong thực tế, đóng góp cho phát triển xã hội không hay lại vứt vào xó tủ?
- Ông bảo nó cắt xén thế thì chất lượng còn ra gì mà triển khai!
- Ông vẫn biết nó cắt xén, vẫn biết cái sản phẩm ông đẻ ra nó chả ra gì, chả đóng góp gì cho xã hội vậy tại sao ông còn cố để mà làm? Ông ạ, tiền các đề tài nhiệm vụ khoa học lấy từ nguồn ngân sách quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nó lấy từ nguồn thuế được đóng góp từ những đồng tiền thẫm đẫm công sức, mồ hôi và nước mắt của người dân đấy ông ạ!

SỰ KHỐN NẠN CỦA LƯƠNG TRI VÀ SỰ NGU SI CỦA TRÍ THỨC

(Đọc, nghe, cảm nhận và tư duy)
Có một ông Tiến sỹ có chuyên môn chả liên quan, không phân biệt được loài nọ với loài kia, con nào là con đực, con nào là con cái, le ve chụp ảnh, đăng bài thế là được báo chí tung hô coi ông là chuyên gia hàng đầu về một loài động vật, nhất nhất mọi thứ đều tham khảo ý kiến của ông!

Có ông Tiến sỹ vỗ ngực xưng là chuyên gia về thủy điện, đăng đàn chém rầm rầm, khi hỏi ông tại sao ông không phân biệt được đâu là thủy điện hồ chứa điều tiết năm và đâu là thủy điện đập dâng điều tiết ngày đêm thì ông mới thú nhận rằng chuyên ngành của ông chả liên quan gì đến thủy điện!
Có một ông Tiến sỹ còn đương chức, nhất định đòi bằng được việc xây dựng hướng dẫn nội dung quy định về một loại chính sách trong văn bản quy phạm phải theo tư duy và ý kiến của ông. Đến khi bị truy về tính logic, khoa học và thực tiễn của các quy định về chính sách này thì ông mới thú nhận là chả hiểu gì về nó cả!
Vừa rồi, có ông Tiến sỹ lên báo khẳng định chỉ cần xét nghiệm cá chết sau một ngày là ông có thể xác định được nguyên nhân cá chết ở ven biển miền Trung. Cũng mới vừa rồi, khi Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố nguyên nhân cá chết và khẳng định mọi thông số nước biển trong khu vực đều đã ở ngưỡng an toàn thì lại có ông Tiến sỹ lên mặt báo khẳng định: chất ô nhiễm vẫn còn tồn lưu trong trầm tích đáy mà không thèm để ý đến chất ô nhiễm là chất gì và cơ chế phân hủy, tồn tại của nó ra sao!
Với việc phát biểu và tư duy như thế, có ông muốn được báo giới và dư luận tung hô. Có ông lại muốn được thiên hạ biết đến như một nhà hoạch định chính sách tiên phong của nước nhà! 
Vâng, tên tuổi của các ông đã nổi như cồn, dư luận và báo chí thậm chí còn tung hô các ông là những nhà khoa học trung thực, có trách nhiệm với xã hội!
Và sự thực thì sao? Với cách làm của các ông, một loạt chính sách trên trời được ra đời, vô bổ và tốn kém, kìm hãm sự phát triển của đất nước! Với phát biểu vô tội vạ của các ông, có những dự án thực sự hiệu quả đối với nền kinh tế và tác động thấp hơn rất nhiều so với các dự án khác cùng loại không thể được thực hiện! Và tồi tệ hơn là sự tê liệt toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội của cả một vùng rộng lớn không phải một ngày, một tháng mà cả chục năm! Không những thế nó còn tác động tiêu cực đến dư luận và xã hội trên toàn bộ đất nước!
Nước Nhật sau Đại thế chiến lần thứ hai là một nước bại trận, nền kinh tế kiệt quệ, nhưng với những nỗ lực phi thường của cả dân tộc, với trách nhiệm của cả cộng đồng trong đó có các trí thức, nhà khoa hoc, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc thứ hai về kinh tế của thế giới! Không có khoa học, công nghệ, không có trí thức có lẽ nước Nhật sẽ không bao giờ đạt được thành tựu vĩ đại như ngày nay, đó chính là tính trách nhiệm và nỗ lực của trí thức Nhật Bản.
Còn ở Việt Nam, sự tàn phá của chiến tranh sẽ không thể nặng nề bằng sự háo danh, vô trách nhiệm của một số trí thức, nhà báo và cả một số quan chức nhà nước cũng như một số người thích thể hiện bản thân với xã hội! Môi trường ở Việt Nam đang bị ô nhiễm cả về tự nhiên và xã hội. Sự phát triển nào cũng có sự đánh đổi, môi trường tự nhiên đã và đang bị đánh đổi để có sự phát triển kinh tế - xã hội và đang được cả xã hội cố gắng chung tay để phục hồi, làm sạch, trả lại cho thế hệ tương lai. Nhưng môi trường xã hội đang bị ô nhiễm bởi thói háo danh, trục lợi, vô trách nhiệm thì đất nước này chỉ càng ngày càng kiệt quệ, dân tộc này không nhận được bất cứ lợi ích gì cả!
Sự háo danh, trục lợi và vô trách nhiệm đó có tên gọi là SỰ KHỐN NẠN CỦA LƯƠNG TRI VÀ SỰ NGU SI CỦA TRÍ THỨC!

NHÀ CẦM QUYỀN VÀ DƯ LUẬN


Khái niệm 1: Nhà cầm quyền biết lắng nghe và tôn trọng dư luận là một Nhà cầm quyền tốt, biết đặt lợi ích đất nước, lợi ích dân tộc lên trên lợi ích của những người cầm quyền.

Khái niệm 2: Nhà cầm quyền mà chà đạp hoặc phớt lờ dư luận là Nhà cầm quyền yếu kém và tàn độc.
Khái niệm 3: Nhà cầm quyền mà luôn chạy theo, tìm cách lấy lòng dư luận là Nhà cầm quyền đớn hèn; Nhà cầm quyền mà tìm cách định hướng dư luận để bóp méo sự thật là Nhà cầm quyền đê tiện.
Trên thực tế, Khái niệm 1 nhiều khi bị nhầm lẫn và đánh tráo với Khái niệm 2 và Khái niệm 3 cũng bởi chính dư luận vì dư luận lẫn lộn cả đúng, sai, tốt, xấu! Khi Khái niệm 2 và Khái niệm 3 cùng tồn tại trong một Nhà cầm quyền thì đó là khi sự yếu kém, tàn độc, đớn hèn và đê tiện cùng tồn tại.

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG: SỰ THỐNG NHẤT TRONG QUẢN LÝ VÀ TIỀN ĐỀ CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

I. Sự bất cập của công tác quy hoạch hiện nay và vai trò của Quy hoạch bảo vệ môi trường:
Hiện nay, các loại hình quy hoạch phát triển chưa có được sự gắn kết giữa định hướng phát triển kinh tế - xã hội với các yêu cầu về quản lý và bảo vệ môi trường tự nhiên, sinh thái, môi trường sống và các giá trị bảo tồn văn hóa lịch sử... Vì vậy, trên thực tế đã xảy ra sự chồng chéo và mâu thuẫn giữa các quy hoạch phát triển dẫn đến sự phát vỡ cân bằng giữa bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sịnh học, giá trị lịch sử văn hóa và sự lãng phí, kém hiệu quả trong công tác quy hoạch.
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, đối tượng phải thực hiện báo cáo đánh giá môi trường chiến lược bao gồm 6 loại hình quy hoạch. Tuy nhiên, việc thực hiện đánh giá môi trường chiến lược đối với các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực gặp không ít khó khăn và vướng mắc do cơ quan thực hiện quy hoạch không có sự chuyên sâu trong công tác bảo quản lý và vệ môi trường và cũng không có công cụ, thông tin, cơ sở dữ liệu để phân tích, đánh giá sự phù hợp của các quan điểm mục tiêu phát triển với các quan điểm, mục tiêu về quản lý và bảo vệ môi trường trong phạm vi vùng lãnh thổ thực hiện quy hoạch. Mặt khác, hiện nay rất nhiều quy hoạch phát triển trên cùng một vùng lãnh thổ có sự mâu thuẫn, chồng chéo về phạm vi, định hướng và giải phát thực hiện đẫn đến thiếu khả thi khi triển khai thực tế và thường phải điều chỉnh phương án quy hoạch do không đáp ứng các tiêu chí phát triển được đề xuất khi lập quy hoạch.
Với việc phân tích hiện trạng môi trường và điều kiện địa lý, tự nhiên, xã hội và sinh thái trong vùng quy hoạch, phân vùng môi trường theo mục tiêu được xác lập và phân tích các vấn đề liên quan đến hệ thống quản lý và các yêu cầu chung về bảo vệ môi trường theo xu thế phát triển của các ngành kinh tế - xã hội của vùng quy hoạch để đưa ra các định hướng về quản lý và bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và thảm phủ thực vật, bảo vệ các giá trị văn hóa, lịch sử trong vùng quy hoạch và giải pháp thực hiện, quy hoạch bảo vệ môi trường sẽ xác lập các tiêu chí chung nhằm quản lý thống nhất về môi trường, tạo hàng lang để các quy hoạch phát triển xác lập các tiêu chí, mục tiêu phát triển phù hợp với điều kiện địa lý, tự nhiên, sinh thái nhằm đảm bảo hài hòa giữa các định hướng và giải pháp thực hiện dựa trên 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường.
 Việc thực hiện đánh giá môi trường chiến lược cho các loại hình quy hoạch hiện nay gặp nhiều khó khăn do cơ quan thực hiện quy hoạch phát triển không xác định được hiện trạng, diễn biến của các thành phần môi trường và định hướng quản lý và bảo vệ môi trường. Do vậy việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường sẽ tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả của ĐMC trong vai trò là công cụ phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của các quy hoạch phát triển trong quá trình lập quy hoạch và đánh giá mức độ phù hợp của các định hướng, mục tiêu, giải pháp phát triển với các yêu cầu về quản lý và bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
Môi trường có ý nghĩa không gian quan trọng mang ý nghĩa mở và không thể chia cắt theo địa giới hành chính, quản lý và bảo vệ môi trường đòi hỏi có sự thống nhất theo không gian và vùng lãng thổ từ trung ương đến địa phương. Do vậy, các nội dung về quản lý và bảo vệ môi trường phải được xác lập tổng hợp để thực hiện một các thống nhất từ trung ương đến địa phương và giữa các ngành, lĩnh vực phát triển làm cơ sở để phân tích, đề xuất các định hướng, giải pháp phát triển hài hòa lợi ích giữa các địa phương và các ngành, lĩnh vực. Với các phân tích nêu trên, việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường có vai trò rất quan trọng, tạo ra động lực và hành lang cho các hoạt động phát triển đảm bảo hài hòa 3 trụ cột kinh tế - xã hội – môi trường.
          Vai trò của Quy hoạch bảo vệ môi trường đối với các quy hoạch phát triển là hết sức rõ ràng:
          - Tạo cơ sở giúp các quy hoạch phát triển có được các định hướng phù hợp với các định hướng của quy hoạch môi trường, giảm chi phí và thời gian lập quy hoạch phát triển;
          - Đưa ra các định hướng phát triển phù hợp với môi trường nền và diễn biến môi trường trong kỳ quy hoạch nhằm hài hòa giữa mục tiêu phát triển KT-XH và  bảo vệ môi trường tự nhiên, sinh thái, môi trường sống và các giá trị bảo tồn văn hóa lịch sử...
          - Thực hiện phục vụ việc sắp xếp, bố trí các hoạt động, biện pháp bảo vệ môi trường cho các vùng lãnh thổ đảm bảo 3 trụ cột kinh tế - xã hội – môi trường.
- Tạo điều kiện để đối sánh giữa quan điểm mục tiêu phát triển của quy hoạch và các quan điểm mục tiêu về phân vùng môi trường, các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo phân vùng môi trường đã được xác định.
          Như vậy, Quy hoạch môi trường không có mâu thuẫn và chồng chéo với các quy hoạch phát triển. Với các mục tiêu và nội dung của Quy hoạch môi trường, việc hỗ trợ và hậu thuẫn làm tăng sự thống nhất giữa các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành trong một vùng quy hoạch trên cở sở các nội dung và định hướng về quản lý môi trường là rất rõ ràng. Có thể khẳng định: Quy hoạch môi trường sẽ làm giảm sự mâu thuẫn và chồng chéo giữa các quy hoạch phát triển đã, đang và sẽ thực hiện trong cùng một vùng quy hoạch.
II. Vai trò chủ đạo của quy hoạch bảo vệ môi trường trong quản lý, giám sát, bảo vệ môi trương, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường:
          Theo các Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Bảo tồn đa dạng sinh học, Luật Tài nguyên nước và Luật Xây dựng, hiện nay đã có các quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường. Tuy nhiên, trên thực tế các quy hoạch này có sự bất cập chưa thực sự đáp ứng được các mục tiêu về quản lý, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và các định hướng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
          Với việc đưa công cụ Quy hoạch bảo vệ môi trường vào Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, công cụ này sẽ có vai trò chủ đạo cho các loại hình quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường gắn kết chặt chẽ với thực trạng môi trường và gắn kết với các hoạt động phát triển trong vùng quy hoạch.
          Quy hoạch các vị trí quan trắc môi trường hiện nay đã và đang được triển khai thực hiện nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý, giám sát chất lượng môi trường. Tuy nhiên, việc bố trí các trạm quan trắc môi trường cần được gắn kết chặt chẽ với phân vùng môi trường nhằm đưa ra mật độ trạm quan trắc, giám sát phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các định hướng phát triển phù hợp với mức độ tác động đến môi trường của các hoạt động phát triển trong hành lang các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn được áp dụng cho từng phân vùng môi trường và đảm bảo các mục tiêu, định hướng được đặt ra trong quy hoạch bảo vệ môi trường.
          Hiện nay, việc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học, quy hoạch vườn quốc gia, rừng phòng hộ đang có những bất cập và tác động ngược trở lại với hiện trạng và định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Rất nhiều khu vực thuộc các quy hoạch này đã được chuyển đổi thành rừng sản xuất hoặc được quy hoạch quỹ dành cho các hoạt động phát triển. Như vậy giữa các quy hoạch này với các quy hoạch phát triển cho sự mâu thuẫn và gây khó khăn cho các ngành, lĩnh vực trong việc thực hiện các giải pháp của phương án phát triển. Vì vậy, cần có phân vùng và định hướng cụ thể các tiêu chí quản lý, bảo vệ và bảo tồn để hài hòa giữa mục tiêu của các quy hoạch bảo tồn, phát triển rừng với thực trạng và quy hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực. Quy hoạch bảo vệ môi trường sẽ làm chức năng kết nối quá trình thực hiện các quy hoạch phát triển và bảo tồn.
          Trên thực tế, quy hoạch tài nguyên nước và các quy hoạch hệ thống xử lý môi trường chưa thực sự gắn kết với các quy hoạch phát triển tạo ra sự bất hợp lý trong bảo vệ tài nguyên nước và xây dựng hạ tầng hệ thống xử lý môi trường. Việc bố trí các hệ thống xử lý môi trường tại khu vực nhạy cảm hoặc có khả năng chịu tác động của các điều kiện địa hình, địa chất và địa lý tự nhiên đôi khi xảy ra tác động ngược là gia tăng ô nhiễm môi trường. Điển hỉnh là việc bố trí công trình xử lý môi trường ở vùng đất trũng thường xuyên chịu tác động của lũ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Việc định hướng về quản lý, xử lý chất thải và giải pháp chung về bố trí các hệ thống hạ tầng xử lý môi trường theo điều kiện tự nhiên và áp lực của phát triển kinh tế - xã hội sẽ giúp giải quyết các vấn đề có liên quan đến các quy hoạch này.
          Quy hoạch sử dụng đất thực chất cũng là loại hình quy hoạch không gian dựa trên các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch bảo tồn và quy hoạch hệ thống xử lý môi trường. Tuy nhiên do các phát triển, quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường chưa thực sự gắn kết với công tác quản lý và bảo vệ môi trường nên xảy ra nhiều bất cập trong thực hiện và thường xuyên phải tính đến các phương án điều chỉnh để phụ hợp với quá trình phát triển.
          Như vậy, quy hoạch bảo vệ môi trường không làm thay nhiệm vụ của các quy hoạch liên quan đến quản lý, giám sát, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bố trí hạ tầng xử lý môi trường. Với các nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường, nó sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng các quy hoạch này phù hợp với quá trình thực hiện các phương án phát triển, đảm bảo phát triển bền vững.
III. Thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường:
Trên thực tế trong quá trình xây dựng Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, các nhà quản lý môi trường đã xây dựng các ý tưởng vệ quy hoạch môi trường. Tuy nhiên, phương pháp luận và sự đồng thuận trong việc lập quy hoạch môi trường chưa cho phép xây dựng các quy hoạch về môi trường.
Trong những năm vừa qua, nhận thức được tầm quan trọng của quy hoạch về môi trường, đã có rất nhiều ngành, lĩnh vực và địa phương tiến hành lập quy hoạch môi trường hoặc quy hoạch bảo vệ môi trường. Trên thực tế, các quy hoạch về môi trường này cũng đã đóng góp một phần hữu hiệu trong quản lý và là nền tảng để Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng phương pháp luận về quy hoạch bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện phát triển trong giai đoạn sắp tới của Việt Nam.
Song hành với các áp lực trong nước đòi hỏi phải có quy hoạch về môi trường để đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo vệ song hành với phát triển bền vững, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã nghiên cứu các phương pháp luận về quy hoạch của một số nước Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á. Đặc biệt là mô hình của Nhật Bản, một Quốc gia có điều kiện tương đồng về bản sắc văn hóa, dân tộc, địa lý và đi trước chúng ta nhiều năm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đã có những trả giá vô cùng đắt khi đánh đổi giữa phát triển kinh tế - xã hội với sự suy thoái, ô nhiễm môi trường trầm trọng trong thập niên 60 của thế kỷ trước.
Dưới sự giúp đỡ của Nhật Bản thông qua cơ quan hợp tác phát triển JICA, tỉnh Quảng Ninh đã lập Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh, Quy hoạch Môi trường Vịnh Hạ Long nhằm quản lý và bảo vệ môi trường hài hòa với các mục tiêu phát triển, mục tiêu bảo vệ di sản văn hóa Vịnh Hạ Long. Đây là mô hình quan trọng để định hướng các nội dung liên quan đến quy hoạch bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn vừa đảm bảo phát triển vừa từng bước nâng tầm trong quản lý và bảo vệ môi trường.

Trong quá trình Dự thảo Luật bảo vệ môi trường để trình Quốc hội thông qua vào năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy sự cấp bách cần thực hiện Quy hoạch bảo vệ môi trường để đảm bảo phát triển hài hòa trên 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường và đây cũng là thời điển chín mồi để luật hóa các nội dung liên quan đến Quy hoạch bảo vệ môi trường. Quy hoạch bảo vệ môi trường cần được thực hiện thống nhất trong cả nước do cơ quan được giao trọng trách quản lý môi trường là Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì có sự tham gia và đồng thuận của các Bộ, ngành, địa phương có liên quan làm cơ sở để hài hòa giữa các mục tiêu phát triển và mục tiêu quản lý và bảo vệ môi trường. Thẩm quyền lập, thẩm định, thực hiện và các nội dung cơ bản của Quy hoạch bảo vệ môi trường đã được cơ quan Dự thảo soạn thảo và bổ sung sửa đổi trên cơ sở tham vấn ý kiến của các Đại biểu Quốc hội, các Bộ, ngành, địa phương và các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực quản lý môi trường.

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

NIỀM ĐAU VÔ BỜ


Một nỗi đau cả đời sao liền nổi, những nhát dao em xuyên nát tim tôi. Chỉ hơn năm trời mái đầu tôi đã bạc, những lời khi xưa em không nhớ gì sao?

Tôi đã nói nếu mình không chung thuỷ, thì chia tay đừng lừa dối lẫn nhau và tôi đã một lòng vì vợ, bao ngày dài lặng lẽ chăm con. Em không hiểu hay cố tình không hiểu, những ân tình tôi đã cho em?

Đừng so sánh tình xưa em ạ, cả cuộc đời này em chả hiểu được đâu! Khi tự trọng là nỗi niềm quá khứ, người ta đành chấp nhận mất nhau, một câu nói là niềm đau của người con gái: em không còn xứng đáng với anh!

em ạ người ta không còn dám, ngồi một mình đối diện với chồng em! Xin hãy để niềm xưa thành dĩ vãng, sao lại đành so sánh với hôm nay.

Suốt một đời trai tôi một lòng với vợ, nông nỗi nào chịu trái đắng hôm nay? Tôi nuốt nỗi đau vì đàn con thơ dại, sao em còn mặc cả với tương lai?

Những dòng thơ tôi viết cho quá khứ, giờ lại dành viết cả cho hôm nay, tôi không muốn nhưng cũng đành lòng vậy, vì cuộc tình còn nhiều nỗi đắng cay!

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

CHUNG TAY GÓP ĐÁ XÂY DỰNG QUAN TRÍ

Với một người dân bình thường khi quyết định một việc gì đó sẽ dẫn đến một kết quả lợi lợi hay có hại đối với bản thân người đó, gia đình và rộng hơn là người thân, bạn bè xung quanh họ. Những với một nhà lãnh đạo, một nhà quản lý một đất nước, một ngành hay một địa phương nào đó thì hiệu lực và hiệu quả hay hậu quả đêm đến là rất lớn. Nó có thể tạo ra động lực tích cực hay hậu quả nghiêm trọng đối với cả đất nước, cả cộng đồng. Việc quyết định một vấn đề liên quan đến chính sách, định hướng vì vậy cần được cân nhắc, xác định hiệu quả hay hậu quả tất yếu có thể xảy ra chứ không thể coi như là một sự thử nghiệm được.
Vừa qua việc đổi giờ làm việc ở một TP lớn như Hà Nội đã gây những xáo trộn nhất định không thể nói là đạt hiệu quả kinh tế - xã hội được.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

AI HƯỞNG LỢI TỪ VIỆC THU PHÍ, AI TƯ HÀO VÌ ĐÓNG GÓP CHO ĐẤT NƯỚC KHI ĐÓNG PHÍ? KHÔNG PHẢI CHÁU!

LỜI BÌNH:
Đồng chí Đinh Giao Thông vừa phát biểu: "Mức phí giao thông đề xuất là hợp lý, cá nhân tôi xin chịu trách nhiệm. Tôi tin, 600.000 người có xe ôtô sẽ tự hào vì tham gia đóng góp cho đất nước" đồng chí lại nói ngân sách nhà nước dành cho phát triển giao thông có 7% em hỏi thật các bác thế 200% tiền xe dân nộp thuế cộng với tiền đủ loại phí để lăn được bánh trên đường đi đâu? Số tiền ấy em bỏ ra khi mua ô tô, xe máy là hưởng lợi hay hưởng hại? cũng là con người mà vì em ở Việt Nam em phải chịu còn các anh tây, anh tầu, anh phi... lại không!
Có bác nào trong 600.000 bác có ô tô nghe Đinh Bộ trưởng xui khôn xui dại mà phổng mũi tự hào chứ dứt khoát không phải cháu! Thế kỷ 21 rồi mà Đinh Bộ trưởng lại cứ đưa bà con về lại thế kỷ thứ 15 dưới thời nhà Hồ với Quốc hiệu Đại Ngu có chết không cơ chứ!
Còn các bác, các bác có thấy tự hào không ạ?
- “Các chính sách thu phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân, phí ôtô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm, Quỹ bảo trì đường bộ đưa ra thì phải động chạm tới đối tượng bị tác động. Tất nhiên, có một số đối tượng bị ảnh hưởng, còn đa phần người dân được hưởng, đi nhanh hơn, đỡ ô nhiễm hơn…”, Bộ trưởng Bộ GTVT, Đinh La Thăng trao đổi với báo giới chiều 3/4.

Thực tiễn yêu cầu phải hành động

Giải thích cho việc tại sao người dân phải đóng phí lưu hành phương tiện, người đứng đầu ngành giao thông cho biết: Hiện nay, đường bộ có khoảng 280.000km trong khi chỉ thu được khoảng 5.000km đường bộ. So sánh toàn quốc lộ và tỉnh lộ mới chỉ thu 4%, còn lại phần lớn đường chưa thu phí.

“Ai sử dụng nhiều hạ tầng thì phải trả nhiều tiền hơn người dùng ít, ô tô trả nhiều hơn xe máy, xe máy nhiều hơn đi xe đạp. Tiền phí đấy là trả cho dịch vụ gián tiếp mà người sử dụng phương tiện được hưởng”, Bộ trưởng Thăng nói.

Bộ trưởng Đinh La Thăng
Về mục đích đưa ra đề xuất Phí hạn chế xe cá nhân, Bộ trưởng Thăng cho rằng, trước tiên là để hạn chế phương tiện cá nhân, vì chỉ tính trong quý I vừa qua, số lượng phương tiện đăng ký mới đã tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái; Thêm nữa, thu phí để có tiền để đầu tư hạ tầng giao thông tốt hơn, người dân được hưởng; Phương tiện cá nhân giảm đi sẽ có điều kiện để tăng phương tiện vận tải công cộng…

“Nếu cứ đợi phát triển hạ tầng đủ rồi mới tìm cách hạn chế xe cá nhân thì lúc đấy đường sẽ không còn đi được nữa, nên từ giờ phải thực hiện ngay. Ở đây không có chuyện Bộ GTVT thích hay không, nóng vội hay không, từ thực tiễn yêu cầu cần phải hành động, và đồng thời cũng thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ trong gói giải pháp nhằm hạn chế gia tăng phương tiện cá nhân”
, Bộ trưởng Thăng cho biết.

Lý giải cho việc phí lưu hành phương tiện và phí nội đô có sự thay đổi so với đề xuất sau khi dư luận phản ứng, ông Thăng cho rằng, trước đây dự kiến thu từ 20 -50 triệu đồng/xe/ năm, nhưng sau khi có ý kiến đóng góp của nhân dân thông qua báo chí thì Bộ đã có điều chỉnh.

Theo đó, chia nhỏ và giãn mức thu với các mức thu như 10 triệu đồng/ xe/ năm, 15 triệu đồng/ xe/ năm, 20 triệu đồng/ xe/ năm... tùy loại xe. Trên cơ sở như vậy thì tổng mức thu khoảng 12.000-15.000 tỉ đồng/năm. Sau khi thu ôtô xong mới có đánh giá và 6 tháng sau triển khai thu xe máy.

Với xe máy, Bộ đề xuất thu phí xe có dung tích xi lanh 100 m3 là 300.000 đồng/năm, xe có dung tích từ 100-175 là 500.00 đồng/năm và trên 175 là 1 triệu đồng/năm ở năm thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ và chỉ thu ở khu vực nội đô, không phải tất cả xe máy trong cả nước đều chịu phí.

“Đề xuất cụ thể là do Bộ GTVT và tôi chịu trách nhiệm trực tiếp. Việc phí cao hay thấp là do người dân đánh giá. Còn với cá nhân và Bộ thì mức đề xuất là hợp lý, bởi khi đã làm thì sẵn sàng đề xuất vì mục đích chung vì mục tiêu đại đa số người dân được hưởng lợi”, Bộ trưởng Thăng nói.

Thu phí đem lại nhiều lợi ích

Theo Bộ trưởng Đinh La Thăng, mức thu phí, nếu làm đồng bộ thì từ 2008 đã phải làm. Giờ triển khai, tất nhiên không ai muốn nộp phí cả. Nhưng việc thu phí sẽ đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng phương tiện.

Bộ trưởng Thăng dẫn chứng: như Cao tốc Sài Gòn - Trung Lương làm xong không thu, khi tiến hành thu là chủ phương tiện kêu ca. Lúc đầu, các xe chuyển sang đi đường 1A, nhưng sau đó thời gian đi lại ít, đường tốt, giảm chi phí xăng dầu nên đã quay lại đi.

Theo Bộ trưởng Bộ GTVT, chỉ tính trong quý I vừa qua, số lượng phương tiện đăng ký mới đã tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái
Cũng theo người đứng đầu ngành giao thông, nhà nước đầu tư hạ tầng thì người dân sử dụng cũng phải đóng góp, người dùng ô tô sử dụng nhiều hạ tầng thì phải đóng góp nhiều hơn.

“Một chính sách đưa ra chưa hẳn đã công bằng, nhưng tôi nghĩ rằng 600.000 người đang sử dụng ô tô sẽ ủng hộ và tự hào vì được đóng góp. Tôi không nói có ô tô là người giàu, mà là đỡ nghèo hơn người không có ô tô”, ông Thăng nói.

Trước nhiều ý kiến cho rằng, thu nhập người dân còn thấp so với các nước nên chưa thể đóng phí lưu hành phương tiện. Người đứng đầu ngành giao thông cho rằng: Mọi sự so sánh đều khập khiễng và không thể nói thu nhập kém thì chất lượng công trình kém được.

Trả lời câu hỏi liên quan đến việc Bộ GTVT đề xuất thu phí hạn chế phương tiện cá nhân sẽ làm cho tín nhiệm của Bộ trưởng Bộ GTVT giảm sút, người đứng đầu ngành giao thông cho rằng: “Khi đã làm thì sẵn sàng đề xuất, vì mục đích chung, vì mục tiêu đại đa số người dân được hưởng hạ tầng giao thông tốt, nên không sợ tín nhiệm cao hay thấp”.

Về khả năng Bộ trưởng Bộ GTVT sẽ được Quốc hội đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm, Bộ trưởng Thăng cho hay: “Đấy là quyền của Quốc hội, tôi không có quyền muốn hay không muốn. Khi Quốc hội đã quyết định bỏ phiếu tín nhiệm thì những ai được bỏ phiếu tín nhiệm đều phải chấp nhận. Còn tôi sẵn sàng làm việc này, vì đất nước, vì mục tiêu chung, mà Quốc hội không tín nhiệm thì phải chấp nhận”.